|
Vàng miếng SJC |
Khu vực |
Phiên ngày 23/5 |
Phiên ngày 18/5 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
159,00 |
162,00 |
160,50 |
163,50 |
-1.500 |
-1.500 |
|
Hệ thống Doji |
Hà Nội |
159,00 |
162,00 |
160,50 |
163,50 |
-1.500 |
-1.500 |
|
TP HCM |
159,00 |
162,00 |
160,50 |
163,50 |
-1.500 |
-1.500 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
159,00 |
162,00 |
160,50 |
163,50 |
-1.500 |
-1.500 |
|
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
TP HCM |
159,00 |
162,00 |
160,50 |
163,50 |
-1.500 |
-1.500 |
|
Hà Nội |
159,00 |
162,00 |
160,50 |
163,50 |
-1.500 |
-1.500 |
|
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
159,00 |
162,00 |
160,50 |
163,50 |
-1.500 |
-1.500 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
159,00 |
160,50 |
162,00 |
163,00 |
-3.000 |
-2.500 |
Vàng miếng tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Khép lại tuần giao dịch, giá vàng miếng SJC tiếp tục duy trì xu hướng giảm mạnh tại tất cả các doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn trên cả nước, nối dài đà lao dốc đã xuất hiện từ tuần trước.
Khảo sát tại các hệ thống lớn như Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC), Tập đoàn Doji, Phú Quý, PNJ và Bảo Tín Minh Châu cho thấy giá vàng miếng SJC đồng loạt giảm khoảng 1,5 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với thời điểm cuối tuần trước.
Sau nhiều phiên điều chỉnh liên tiếp, giá vàng miếng SJC tại nhiều doanh nghiệp đã lùi sâu về ngưỡng 162 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra, thấp hơn đáng kể so với vùng đỉnh thiết lập trước đó.
Trong khi đó, hệ thống Mi Hồng ghi nhận mức điều chỉnh mạnh hơn mặt bằng chung của thị trường khi giảm khoảng 3 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 2,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra trong tuần qua.
|
Vàng nhẫn tròn trơn |
Phiên ngày 23/5 |
Phiên ngày 18/5 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
|
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
|||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
158,00 |
161,00 |
160,30 |
163,30 |
-2.300 |
-2.300 |
|
Tập đoàn Doji |
158,50 |
161,50 |
160,50 |
163,50 |
-2.000 |
-2.000 |
|
Tập đoàn Phú Quý |
158,50 |
161,50 |
160,50 |
163,50 |
-2.000 |
-2.000 |
|
Vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
158,50 |
161,50 |
160,50 |
163,50 |
-2.000 |
-2.000 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
158,50 |
161,50 |
160,50 |
163,50 |
-2.000 |
-2.000 |
|
Mi Hồng |
159,00 |
160,50 |
162,00 |
163,00 |
-3.000 |
-2.500 |
Vàng nhẫn trơn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Cùng xu hướng với vàng miếng, phân khúc vàng nhẫn tròn trơn tiếp tục ghi nhận diễn biến giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn.
Tại Công ty SJC, giá vàng nhẫn giảm khoảng 2,3 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với cuối tuần trước.
Trong khi đó, các hệ thống Doji, Phú Quý, PNJ và Bảo Tín Minh Châu đồng loạt điều chỉnh giảm khoảng 1 triệu đồng/lượng cho cả chiều mua và bán.
Đáng chú ý, hệ thống Mi Hồng tiếp tục là đơn vị có mức giảm mạnh nhất thị trường khi giá vàng nhẫn tròn trơn giảm khoảng 3 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 2,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra so với thời điểm cuối tuần trước.
Ảnh minh hoạ: Du Y.
|
Vàng nữ trang 24K |
Khu vực |
Phiên ngày 23/5 |
Phiên ngày 18/5 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
156,00 |
159,50 |
158,30 |
161,80 |
-2.300 |
-2.300 |
|
Tập đoàn Doji |
Hà Nội |
156,00 |
160,00 |
158,00 |
162,00 |
-2.000 |
-2.000 |
|
TP HCM |
156,00 |
160,00 |
158,00 |
162,00 |
-2.000 |
-2.000 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
156,50 |
160,50 |
159,00 |
163,00 |
-2.500 |
-2.500 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
156,00 |
160,00 |
158,00 |
162,00 |
-2.000 |
-2.000 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
156,50 |
160,50 |
158,50 |
162,50 |
-2.000 |
-2.000 |
Vàng 24K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Ở phân khúc vàng nữ trang 24K, xu hướng đi xuống tiếp tục chi phối thị trường khi nhiều doanh nghiệp đồng loạt điều chỉnh giảm giá niêm yết trong tuần qua.
Cụ thể, Công ty SJC giảm khoảng 2,3 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra đối với mặt hàng vàng nữ trang 24K.
Tập đoàn Doji, PNJ và Bảo Tín Minh Châu cũng đồng loạt điều chỉnh giảm khoảng 2 triệu đồng/lượng cho cả hai chiều giao dịch.
Riêng Tập đoàn Phú Quý ghi nhận mức giảm mạnh nhất ở phân khúc này khi giá vàng nữ trang 24K giảm tới 2,5 triệu đồng/lượng so với cuối tuần trước.
|
Vàng nữ trang 18K |
Khu vực |
Phiên ngày 23/5 |
Phiên ngày 18/5 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
110,88 |
119,78 |
112,61 |
121,51 |
-1.730 |
-1.730 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
111,10 |
120,00 |
112,60 |
121,50 |
-1.500 |
-1.500 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
102,50 |
106,00 |
104,50 |
108,00 |
-2.000 |
-2.000 |
Vàng 18K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Không nằm ngoài xu hướng giảm của thị trường, giá vàng nữ trang 18K trong tuần qua cũng đồng loạt đi xuống tại nhiều hệ thống kinh doanh vàng lớn.
Theo ghi nhận, Công ty SJC điều chỉnh giảm khoảng 1,73 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra.
Tại hệ thống PNJ, giá vàng 18K giảm khoảng 1,5 triệu đồng/lượng theo cả hai chiều giao dịch.
Trong khi đó, hệ thống Mi Hồng ghi nhận mức giảm mạnh hơn khi giá vàng nữ trang 18K mất tới 2 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với cuối tuần trước.
Nhìn chung, trong tuần giao dịch từ ngày 18/5 đến 23/5, thị trường vàng trong nước tiếp tục chứng kiến xu hướng điều chỉnh giảm mạnh trên diện rộng ở hầu hết các phân khúc, từ vàng miếng SJC, vàng nhẫn tròn trơn đến vàng nữ trang.
Giá tiêu hôm nay tại thị trường trong vẫn ổn định trong khoảng 139.000 – 142.000 đồng/kg, tuy nhiên mức giá này thấp hơn 2.000 – 3.000 đồng/kg so với tuần trước. Trong khi đó, thị trường thế giới tuần qua ghi nhận diễn biến trái chiều giữa giá tiêu Indonesia và Malaysia.
Giá gạo xuất khẩu tại châu Á tiếp tục leo thang trong phiên giao dịch 22/5, trong đó gạo 5% tấm của Việt Nam ở mức khoảng 410-415 USD/tấn, còn giá gạo Thái Lan dao động từ 440-465 USD/tấn.
Giá cà phê tuần qua tăng 200–300 đồng/kg lên 87.400–88.100 đồng/kg, nhưng vẫn chậm hơn đà tăng của thị trường thế giới. Nhiều nông dân tiếp tục giữ hàng tồn kho, chưa muốn bán ra ở mức giá hiện tại.
Giá gạo chuẩn của châu Á đã tăng lên mức cao nhất trong hơn một năm qua, do lo ngại về sản lượng thu hoạch trên toàn khu vực. Chi phí phân bón và nhiên liệu tăng mạnh đang gây áp lực lên hoạt động sản xuất, khiến thị trường lo ngại một bộ phận nông dân Đông Nam Á có thể bỏ qua việc gieo trồng vụ mùa hiện tại.