|
Vàng miếng SJC |
Khu vực |
Phiên ngày 15/9 |
Phiên ngày 14/9 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
142,30 |
145,30 |
143,20 |
146,20 |
-900 |
-900 |
|
Hệ thống Doji |
Hà Nội |
142,30 |
145,30 |
143,20 |
146,20 |
-900 |
-900 |
|
TP HCM |
142,30 |
145,30 |
143,20 |
146,20 |
-900 |
-900 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
142,30 |
145,30 |
143,20 |
146,20 |
-900 |
-900 |
|
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
TP HCM |
142,30 |
145,30 |
143,20 |
146,20 |
-900 |
-900 |
|
Hà Nội |
142,30 |
145,30 |
143,20 |
146,20 |
-900 |
-900 |
|
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
142,50 |
146,50 |
143,00 |
146,20 |
-500 |
+300 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
143,00 |
144,50 |
144,00 |
145,50 |
-1.000 |
-1.000 |
Vàng miếng tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Giá vàng miếng SJC hôm nay chịu áp lực bán ra rõ rệt khi hầu hết hệ thống lớn cùng kéo giá xuống, đẩy mặt bằng giao dịch rời khỏi vùng cao của phiên trước.
Tại Vàng bạc đá quý Sài Gòn, giá vàng miếng SJC ở TP HCM giảm 900.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, còn 142,3 triệu đồng/lượng mua vào và 145,3 triệu đồng/lượng bán ra.
Hệ thống DOJI tại Hà Nội và TP HCM cũng hạ 900.000 đồng/lượng, đưa giá mua vào xuống 142,3 triệu đồng/lượng và bán ra 145,3 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn Phú Quý tại Hà Nội giảm cùng mức 900.000 đồng/lượng, hiện niêm yết 142,3 triệu đồng/lượng mua vào và 145,3 triệu đồng/lượng bán ra.
Tại PNJ, cả hai khu vực TP HCM và Hà Nội đều giảm 900.000 đồng/lượng, giao dịch ở mức 142,3 triệu đồng/lượng mua vào và 145,3 triệu đồng/lượng bán ra.
Bảo Tín Minh Châu có diễn biến lệch chiều đáng chú ý: giá mua vào giảm 500.000 đồng/lượng xuống 142,5 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra tăng 300.000 đồng/lượng lên 146,5 triệu đồng/lượng.
Mi Hồng ghi nhận cú giảm sâu nhất nhóm này, mất 1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, còn 143 triệu đồng/lượng mua vào và 144,5 triệu đồng/lượng bán ra.
|
Vàng nhẫn tròn trơn |
Phiên ngày 15/9 |
Phiên ngày 14/9 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
|
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
|||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
141,80 |
144,80 |
142,70 |
145,70 |
-900 |
-900 |
|
Tập đoàn Doji |
142,50 |
146,50 |
143,00 |
147,00 |
-500 |
-500 |
|
Tập đoàn Phú Quý |
142,30 |
145,70 |
143,20 |
146,20 |
-900 |
-500 |
|
Vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
142,30 |
145,30 |
143,00 |
146,10 |
-700 |
-800 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
142,50 |
146,50 |
143,00 |
147,00 |
-500 |
-500 |
|
Mi Hồng |
143,00 |
144,50 |
144,00 |
145,50 |
-1.000 |
-1.000 |
Vàng nhẫn trơn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Giá vàng nhẫn hôm nay cũng đỏ lửa khi toàn bộ thương hiệu trong bảng khảo sát đều điều chỉnh giảm, trong đó mức giảm mạnh nhất lên tới 1 triệu đồng/lượng.
Tại Vàng bạc đá quý Sài Gòn, giá vàng nhẫn giảm 900.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra, xuống còn 141,8 triệu đồng/lượng và 144,8 triệu đồng/lượng.
DOJI giảm 500.000 đồng/lượng ở hai chiều, hiện niêm yết giá vàng nhẫn tại 142,5 triệu đồng/lượng mua vào và 146,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Phú Quý hạ 900.000 đồng/lượng chiều mua vào và giảm 500.000 đồng/lượng chiều bán ra, đưa giá về tương ứng 142,3 triệu đồng/lượng và 145,7 triệu đồng/lượng.
PNJ giảm lần lượt 700.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và 800.000 đồng/lượng ở chiều bán ra, còn 142,3 triệu đồng/lượng mua vào và 145,3 triệu đồng/lượng bán ra.
Bảo Tín Minh Châu giảm 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, giao dịch tại 142,5 triệu đồng/lượng mua vào và 146,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Mi Hồng tiếp tục là điểm nóng giảm giá, khi giá vàng nhẫn lao dốc 1 triệu đồng/lượng, xuống 143 triệu đồng/lượng chiều mua và 144,5 triệu đồng/lượng chiều bán.
Ảnh minh hoạ: Minh Thư
|
Vàng nữ trang 24K |
Khu vực |
Phiên ngày 15/9 |
Phiên ngày 14/9 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
139,3 |
143,8 |
140,2 |
144,7 |
-900 |
-900 |
|
Tập đoàn Doji |
Hà Nội |
141,70 |
145,70 |
142,40 |
146,40 |
-700 |
-700 |
|
TP HCM |
141,70 |
145,70 |
142,40 |
146,40 |
-700 |
-700 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
140,00 |
145,00 |
140,30 |
145,30 |
-300 |
-300 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
139,50 |
144,50 |
140,30 |
145,30 |
-800 |
-800 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
140,50 |
145,50 |
141,00 |
146,00 |
-500 |
-500 |
Vàng 24K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Giá vàng 24k trong nhóm vàng nữ trang đồng loạt đi xuống, cho thấy áp lực điều chỉnh đã lan rộng từ vàng miếng sang vàng trang sức.
Tại SJC, giá vàng 24k giảm 900.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, còn 139,3 triệu đồng/lượng mua vào và 143,8 triệu đồng/lượng bán ra.
DOJI tại Hà Nội và TP HCM cùng giảm 700.000 đồng/lượng, hiện niêm yết ở mức 141,7 triệu đồng/lượng mua vào và 145,7 triệu đồng/lượng bán ra.
Tập đoàn Phú Quý giảm 300.000 đồng/lượng, đưa giá vàng 24k xuống 140 triệu đồng/lượng mua vào và 145 triệu đồng/lượng bán ra.
Hệ thống PNJ giảm 800.000 đồng/lượng ở hai chiều, hiện giao dịch tại 139,5 triệu đồng/lượng mua và 144,5 triệu đồng/lượng bán.
Bảo Tín Minh Châu giảm 500.000 đồng/lượng, xuống 140,5 triệu đồng/lượng mua vào và 145,5 triệu đồng/lượng bán ra.
|
Vàng nữ trang 18K |
Khu vực |
Phiên ngày 15/9 |
Phiên ngày 14/9 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
98,211 |
108,011 |
98,886 |
108,686 |
-675 |
-675 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
98,48 |
108,38 |
99,08 |
108,98 |
-600 |
-600 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
95,50 |
98,50 |
96,50 |
99,50 |
-1.000 |
-1.000 |
Vàng 18K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Giá vàng 18k không nằm ngoài nhịp giảm của thị trường, khi các thương hiệu cùng hạ giá từ 600.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Tại Vàng bạc đá quý Sài Gòn, giá vàng 18k giảm 675.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, còn 98,211 triệu đồng/lượng mua vào và 108,011 triệu đồng/lượng bán ra.
Hệ thống PNJ giảm 600.000 đồng/lượng, đưa giá mua vào xuống 98,48 triệu đồng/lượng và giá bán ra còn 108,38 triệu đồng/lượng.
Mi Hồng ghi nhận mức giảm nặng nhất, mất 1 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra, hiện còn 95,5 triệu đồng/lượng mua vào và 98,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay giảm 0,21% xuống 4.288,80 USD/ounce theo Kitco; tương tự, giá vàng giao tháng 10 cũng giảm còn 4.290,68 USD/ounce, ghi nhận vào lúc 13h40.
Quy đổi theo giá USD của ngân hàng Vietcombank (26.200 đồng), giá vàng thế giới tương đương 135,4 triệu đồng/lượng, thấp hơn 11,1 triệu đồng/lượng so với giá vàng trong nước.
Giá lúa gạo hôm nay tiếp tục điều chỉnh tăng nhẹ 50 – 150 đồng/kg ở nhóm gạo nguyên liệu. Theo USDA, Philippines có thể phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt hơn trong nhập khẩu gạo tấm, do nhu cầu gia tăng từ Trung Quốc và các nước nhập khẩu khác đang khiến nguồn cung trên thị trường toàn cầu thắt chặt.
Giá gas hôm nay 15/9 tiếp tục ổn định, các khu vực chưa ghi nhận thêm điều chỉnh sau khi bước sang mặt bằng giá mới đầu tháng 9. Mức giá bình 12kg hiện dao động từ 517.104 - 554.000 đồng/bình, trong đó TP HCM cao nhất, còn Hải Phòng thấp nhất, chênh lệch 36.896 đồng/bình.
Giá thép thanh và quặng sắt cùng đi xuống khi biên lợi nhuận của các nhà máy thép Trung Quốc rơi xuống mức thấp kỷ lục, kéo giá quặng sắt về vùng đáy ba tuần.
Giá dầu thô tiếp tục tăng trong phiên sáng ngày thứ Ba (15/9), vì lo ngại về nguồn cung năng lượng gia tăng sau các cuộc tấn công mới nhằm vào cơ sở hạ tầng năng lượng của Arab Saudi và tàu thuyền tại Trung Đông.