|
Vàng miếng SJC |
Khu vực |
Phiên ngày 3/1 |
Phiên ngày 29/12 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
150,80 |
152,80 |
156,80 |
158,80 |
-6.000 |
-6.000 |
|
Hệ thống Doji |
Hà Nội |
150,80 |
152,80 |
156,80 |
158,80 |
-6.000 |
-6.000 |
|
TP HCM |
150,80 |
152,80 |
156,80 |
158,80 |
-6.000 |
-6.000 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
150,80 |
152,80 |
155,80 |
158,80 |
-5.000 |
-6.000 |
|
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
TP HCM |
150,80 |
152,80 |
156,80 |
158,80 |
-6.000 |
-6.000 |
|
Hà Nội |
150,80 |
152,80 |
156,80 |
158,80 |
-6.000 |
-6.000 |
|
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
150,80 |
152,80 |
156,80 |
158,80 |
-6.000 |
-6.000 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
152,50 |
153,80 |
157,60 |
158,80 |
-5.100 |
-5.000 |
Vàng miếng tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Sau giai đoạn tăng mạnh và liên tục xác lập các mốc kỷ lục, giá vàng miếng SJC trong tuần qua đã nhanh chóng hạ nhiệt khi nhiều doanh nghiệp kinh doanh lớn đồng loạt điều chỉnh giảm sâu.
Trong khoảng thời gian từ ngày 29/12 đến 3/1, Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC), Tập đoàn Doji, hệ thống PNJ và Bảo Tín Minh Châu cùng giảm giá vàng miếng tới 6 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch.
Tại Tập đoàn Phú Quý, giá vàng miếng được điều chỉnh giảm 5 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm tới 6 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra.
Trong khi đó, hệ thống Mi Hồng cũng hạ giá mua vàng miếng 5,1 triệu đồng/lượng, còn giá bán giảm 5 triệu đồng/lượng.
|
Vàng nhẫn tròn trơn |
Phiên ngày 3/1 |
Phiên ngày 29/12 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
|
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
|||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
145,90 |
148,90 |
152,50 |
155,50 |
-6.600 |
-6.600 |
|
Tập đoàn Doji |
149,00 |
152,00 |
154,00 |
157,00 |
-5.000 |
-5.000 |
|
Tập đoàn Phú Quý |
149,80 |
152,80 |
155,00 |
158,00 |
-5.200 |
-5.200 |
|
Vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
150,00 |
153,00 |
154,00 |
157,00 |
-4.000 |
-4.000 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
152,00 |
155,00 |
156,30 |
159,30 |
-4.300 |
-4.300 |
Vàng nhẫn trơn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Không nằm ngoài xu hướng chung, phân khúc vàng nhẫn tròn trơn trong tuần qua cũng ghi nhận đà giảm mạnh tại tất cả các thương hiệu lớn, với mức điều chỉnh lên tới nhiều triệu đồng mỗi lượng.
Tại Công ty SJC, giá vàng nhẫn trơn được điều chỉnh giảm mạnh nhất thị trường, lên tới 6,6 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra.
Tập đoàn Doji hạ giá vàng nhẫn trơn 5 triệu đồng/lượng mỗi chiều giao dịch.
Tương tự, Tập đoàn Phú Quý điều chỉnh giảm 5,2 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều.
Với hệ thống PNJ, giá vàng nhẫn trơn giảm 4 triệu đồng/lượng khi mua vào và bán ra.
Riêng hệ thống Bảo Tín Minh Châu ghi nhận mức giảm 4,3 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch.
Ảnh minh hoạ: Du Y.
|
Vàng nữ trang 24K |
Khu vực |
Phiên ngày 3/1 |
Phiên ngày 29/12 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
143,90 |
147,40 |
150,50 |
154,00 |
-6.600 |
-6.600 |
|
Tập đoàn Doji |
Hà Nội |
147,50 |
151,50 |
151,60 |
155,60 |
-4.100 |
-4.100 |
|
TP HCM |
147,50 |
151,50 |
151,60 |
155,60 |
-4.100 |
-4.100 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
148,50 |
152,00 |
154,00 |
157,30 |
-5.500 |
-5.300 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
148,00 |
152,00 |
152,40 |
156,40 |
-4.400 |
-4.400 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
149,00 |
152,50 |
153,30 |
156,80 |
-4.300 |
-4.300 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
152,50 |
153,80 |
157,60 |
158,80 |
-5.100 |
-5.000 |
Vàng 24K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Cùng chiều đi xuống của vàng miếng và vàng nhẫn, thị trường vàng nữ trang 24K trong tuần qua cũng chứng kiến đợt điều chỉnh mạnh, với mức giảm phổ biến từ 4,1 đến 6,6 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Tại Công ty SJC, giá vàng nữ trang 24K giảm mạnh nhất thị trường, lên tới 6,6 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra.
Tập đoàn Doji điều chỉnh giá mua và bán cùng giảm 4,1 triệu đồng/lượng.
Ở Tập đoàn Phú Quý, giá vàng nữ trang 24K được hạ 5,5 triệu đồng/lượng khi mua vào và giảm 5,3 triệu đồng/lượng khi bán ra.
Hệ thống PNJ cũng điều chỉnh giảm 4,4 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch.
Trong khi đó, Bảo Tín Minh Châu ghi nhận mức giảm 4,3 triệu đồng/lượng cho cả giá mua và bán.
Riêng tại Mi Hồng, mức điều chỉnh có sự chênh lệch khi giá mua giảm 5,1 triệu đồng/lượng, còn giá bán giảm 5 triệu đồng/lượng.
|
Vàng nữ trang 18K |
Khu vực |
Phiên ngày 3/1 |
Phiên ngày 29/12 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
102,21 |
110,71 |
107,16 |
115,66 |
-4.950 |
-4.950 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
105,10 |
114,00 |
108,40 |
117,30 |
-3.300 |
-3.300 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
105,00 |
110,00 |
104,50 |
109,50 |
+500 |
+500 |
Vàng 18K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Trái ngược với xu hướng giảm mạnh của các phân khúc trên, giá vàng nữ trang 18K trong tuần qua ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các doanh nghiệp.
Tại Công ty SJC, giá vàng 18K giảm mạnh 4,95 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch. Hệ thống PNJ cũng hạ giá mua vào và bán ra 3,3 triệu đồng/lượng.
Ở chiều ngược lại, hệ thống Mi Hồng lại điều chỉnh tăng giá vàng nữ trang 18K thêm 500.000 đồng/lượng mỗi chiều.
Khép lại tuần giao dịch từ ngày 29/12 đến 3/1, thị trường vàng trong nước ghi nhận tuần điều chỉnh mạnh nhất trong nhiều tuần trở lại đây, khi toàn bộ các phân khúc chính đồng loạt giảm sâu, chấm dứt chuỗi tăng nóng và liên tiếp lập đỉnh của tuần trước.
Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo sản lượng cà phê toàn cầu niên vụ 2025–2026 sẽ tăng 3,5 triệu bao so với niên vụ trước, đạt kỷ lục 178,8 triệu bao. Cùng với đó, tiêu thụ cũng được dự báo tiếp tục tăng lên 173,9 triệu bao – mức cao nhất từ trước đến nay.
Giá sầu riêng hôm nay (5/1) không có thay đổi mới, xuất khẩu sầu riêng Việt Nam sang Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng mạnh, với kim ngạch 11 tháng năm 2025 đạt khoảng 3,24 tỷ USD, chiếm gần 50% thị phần. Việc thu hẹp khoảng cách với Thái Lan cùng nhu cầu biếu tặng dịp Tết được kỳ vọng sẽ tiếp tục nâng đỡ giá sầu riêng trong ngắn hạn.
Giá tiêu hôm nay (5/1) tại thị trường trong nước vẫn duy trì ổn định trong khoảng 149.000 – 151.000 đồng/kg. Trong khi đó, Karnataka – bang sản xuất tiêu lớn nhất Ấn Độ – ghi nhận sản lượng giảm mạnh 44,3% trong niên vụ 2024–2025 và dự báo có thể giảm sâu hơn ở vụ thu hoạch bắt đầu từ tháng 2/2026.
Giá thép và quặng sắt kỳ hạn lấy lại đà tăng khi mở cửa giao dịch đầu năm mới. Thị trường kỳ vọng hơn vào nhu cầu tiêu thụ của Trung Quốc gần dịp Tết Nguyên đán sắp tới.