|
Vàng miếng SJC |
Khu vực |
Phiên ngày 6/10 |
Phiên ngày 5/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
140,50 |
143,50 |
140,50 |
143,50 |
- |
- |
|
Hệ thống Doji |
Hà Nội |
140,50 |
143,50 |
140,50 |
143,50 |
- |
- |
|
TP HCM |
140,50 |
143,50 |
140,50 |
143,50 |
- |
- |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
140,00 |
143,50 |
140,30 |
143,50 |
-300 |
- |
|
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
TP HCM |
140,50 |
143,50 |
140,50 |
143,50 |
- |
- |
|
Hà Nội |
140,50 |
143,50 |
140,50 |
143,50 |
- |
- |
|
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
139,30 |
143,50 |
139,30 |
143,30 |
- |
+200 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
141,50 |
143,00 |
141,50 |
143,00 |
- |
- |
Vàng miếng tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Giá vàng miếng SJC ngày 6/10 nhìn chung neo ở vùng cao, phần lớn doanh nghiệp không thay đổi bảng giá, ngoại trừ Phú Quý giảm giá mua vào và Bảo Tín Minh Châu nâng giá bán ra.
Tại SJC, giá vàng miếng SJC không đổi so với phiên trước, tiếp tục được niêm yết ở 140,5 triệu đồng/lượng mua vào và 143,5 triệu đồng/lượng bán ra.
DOJI cũng giữ nguyên mức giao dịch tại cả Hà Nội và TP HCM, với giá mua vào 140,5 triệu đồng/lượng, bán ra 143,5 triệu đồng/lượng.
Trái chiều thị trường, Phú Quý hạ 300.000 đồng/lượng ở chiều mua vào xuống 140 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra đứng yên ở 143,5 triệu đồng/lượng.
Tại PNJ, vàng miếng không xuất hiện điều chỉnh mới, duy trì mức 140,5 triệu đồng/lượng mua vào và 143,5 triệu đồng/lượng bán ra ở cả Hà Nội lẫn TP HCM.
Riêng Bảo Tín Minh Châu giữ giá mua ở 139,3 triệu đồng/lượng, nhưng tăng giá bán thêm 200.000 đồng/lượng, lên 143,5 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, Mi Hồng tiếp tục là nơi có giá mua cao nhất trong nhóm khảo sát, giữ nguyên tại 141,5 triệu đồng/lượng, còn chiều bán ra ở 143 triệu đồng/lượng
|
Vàng nhẫn tròn trơn |
Phiên ngày 6/10 |
Phiên ngày 5/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
|
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
|||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
140,00 |
143,00 |
140,00 |
143,00 |
- |
- |
|
Tập đoàn Doji |
139,50 |
143,50 |
139,50 |
143,50 |
- |
- |
|
Tập đoàn Phú Quý |
140,00 |
143,00 |
140,30 |
143,30 |
-300 |
-300 |
|
Vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
140,30 |
143,30 |
140,50 |
143,50 |
-200 |
-200 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
139,30 |
143,30 |
139,30 |
143,30 |
- |
- |
|
Mi Hồng |
141,50 |
143,00 |
141,50 |
143,00 |
- |
- |
Vàng nhẫn trơn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Thị trường giá vàng nhẫn ngày 6/10 bắt đầu xuất hiện nhịp điều chỉnh giảm tại một số hệ thống, trong khi SJC, DOJI, Bảo Tín Minh Châu và Mi Hồng vẫn giữ giá.
Cụ thể, SJC tiếp tục mua bán vàng nhẫn ở mức 140 triệu đồng/lượng và 143 triệu đồng/lượng, không đổi ở cả hai chiều.
Tại DOJI, giá mua vào duy trì 139,5 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra giữ ở 143,5 triệu đồng/lượng.
Đáng chú ý, Phú Quý đồng loạt giảm 300.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, đưa giá vàng nhẫn về 140 triệu đồng/lượng mua vào và 143 triệu đồng/lượng bán ra.
PNJ cũng điều chỉnh giảm nhưng với biên độ 200.000 đồng/lượng, hiện niêm yết ở 140,3 triệu đồng/lượng mua vào và 143,3 triệu đồng/lượng bán ra.
Ở chiều ổn định, Bảo Tín Minh Châu giữ mức 139,3 triệu đồng/lượng và 143,3 triệu đồng/lượng, còn Mi Hồng duy trì 141,5 triệu đồng/lượng và 143 triệu đồng/lượng, tương ứng cho hai chiều mua - bán.
Ảnh minh hoạ: Minh Thư
|
Vàng nữ trang 24K |
Khu vực |
Phiên ngày 6/10 |
Phiên ngày 5/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
137,5 |
142 |
137,5 |
142 |
- |
- |
|
Tập đoàn Doji |
Hà Nội |
138,5 |
141,5 |
138,5 |
141,5 |
- |
- |
|
TP HCM |
138,5 |
141,5 |
138,5 |
141,5 |
- |
- |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
137,00 |
142,00 |
137,00 |
142,00 |
- |
- |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
137,00 |
142,00 |
137,50 |
142,50 |
-500 |
-500 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
137,30 |
142,30 |
137,30 |
142,30 |
- |
- |
Vàng 24K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Diễn biến giá vàng 24k ngày 6/10 khá lặng sóng tại phần lớn hệ thống, song PNJ bất ngờ kéo cả giá mua lẫn bán xuống 500.000 đồng/lượng.
Theo đó, SJC không thay đổi giá vàng nữ trang 24K, tiếp tục giao dịch tại 137,5 triệu đồng/lượng mua vào và 142 triệu đồng/lượng bán ra.
DOJI cũng đứng yên, niêm yết tại Hà Nội và TP HCM cùng mức 138,5 triệu đồng/lượng mua vào và 141,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Tại Phú Quý, giá mua vào duy trì 137 triệu đồng/lượng, bán ra 142 triệu đồng/lượng, không đổi so với phiên liền trước.
Điểm nóng nằm ở PNJ khi doanh nghiệp này giảm đồng thời 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, đưa giá về 137 triệu đồng/lượng mua vào và 142 triệu đồng/lượng bán ra.
Trong khi đó, Bảo Tín Minh Châu tiếp tục giữ giá mua ở 137,3 triệu đồng/lượng và bán ra 142,3 triệu đồng/lượng.
|
Vàng nữ trang 18K |
Khu vực |
Phiên ngày 6/10 |
Phiên ngày 5/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
96,861 |
106,661 |
96,861 |
106,661 |
- |
- |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
96,60 |
106,50 |
96,98 |
106,88 |
-380 |
-380 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
94,50 |
97,50 |
95,50 |
98,50 |
-1.000 |
-1.000 |
Vàng 18K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Giá vàng 18k không ghi nhận biến động trong phiên 6/10, nhưng khoảng cách giữa giá bán ra tại các thương hiệu vẫn khá lớn.
Tại SJC, giá vàng 18k giữ nguyên ở mức 96,861 triệu đồng/lượng mua vào và 106,661 triệu đồng/lượng bán ra.
Hệ thống PNJ cũng không thay đổi, tiếp tục niêm yết 96,98 triệu đồng/lượng mua vào và 106,88 triệu đồng/lượng bán ra.
Mi Hồng giữ giá thấp hơn đáng kể so với hai hệ thống trên, ở mức 95,5 triệu đồng/lượng mua vào và 98,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay giảm 0,23% còn 4.129,70 USD/ounce theo Kitco; tương tự, giá vàng giao tháng 10 cũng giảm còn 4.130,95 USD/ounce, ghi nhận vào lúc 13h40.
Quy đổi theo giá USD của ngân hàng Vietcombank (26.190 đồng), giá vàng thế giới tương đương 130,3 triệu đồng/lượng, thấp hơn 13,2 triệu đồng/lượng so với giá vàng trong nước.
Trong tháng 9, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu đạt 29,97 tỷ kWh, tăng 9,2% so với cùng kỳ. Đồng thời, EVN đôn đốc tiến độ để khởi công các dự án nhập khẩu điện Trung Quốc khu vực Móng Cái với mục tiêu đưa vào vận hành trong Quý II/2027.
Giá lúa gạo hôm nay tại thị trường trong nước diễn biến trái chiều, với giá lúa đồng loạt tăng, trong khi gạo nguyên liệu và phụ phẩm giảm. Trên thị trường thế giới, giá gạo tiếp tục tăng trong tháng 9, đưa chỉ số giá gạo toàn cầu của FAO lên mức cao nhất kể từ đầu năm.
Nhiều quốc gia sản xuất vàng tại châu Á đang tìm cách giữ lại nhiều hơn giá trị từ nguồn tài nguyên trong nước thông qua tăng năng lực tinh luyện, áp thuế xuất khẩu hoặc mua vào qua ngân hàng trung ương.
Tổng thống Mỹ Donald Trump ký sắc lệnh mở rộng quyền tiếp cận dầu diesel miễn thuế trong bối cảnh giá loại nhiên liệu này đã tăng lên mức kỷ lục khoảng 6,5 USD/gallon vào tháng trước.