Vĩ Mô 22/07/2026 15:49

Gấp rút 'chuyển mình' bằng các dự án hạ tầng, Việt Nam sẽ giải bài toán vốn và nguồn lực thế nào?

Cả Hà Nội, TP HCM và nhiều thành phố lớn đều đang vào guồng quay của sự "chuyển mình" mạnh mẽ, khởi đầu là hạ tầng "cứng" từ giao thông, y tế, giáo dục,...đến các hạ tầng "mềm" như công cuộc số hoá, tháo gỡ vướng mắc bằng chính sách, cắt giảm thủ tục hành chính,...

Khắp nơi, chúng ta bắt gặp những tuyến đường giải phóng mặt bằng với nhiều ngôi nhà phá dang dở hay những người công nhân, máy móc tại các dự án gấp rút xây dựng. Nhiều quy định cũng biến chuyển, từ những chính sách "sát sườn" với người dân như thuế đến những định hướng lớn hơn, những văn bản để "gỡ" những chỗ còn "vướng" hoặc cắt, bỏ để môi trường kinh doanh thuận lợi hơn.

Hà Nội và TP HCM đang trở thành một "đại công trường" thực sự? Thay vì sự ì ạch của những công trình kéo dài tiến độ 10 - 15 năm, giờ đây người dân lại cảm thấy bất ngờ bởi tốc độ thực hiện dự án nhanh chưa từng có.

Giải phóng mặt bằng phục vụ một dự án hạ tầng tại Hà Nội. (Ảnh: Hạ Vũ).

Vậy tại sao Việt Nam phải gấp rút như vậy?

Không riêng gì Việt Nam, trở thành nước thu nhập cao là mục tiêu mà bất kỳ quốc gia nào cũng hướng đến. Nhìn không xa trong khu vực, các nước như Malaysia, Thái Lan, Indonesia đã mất rất nhiều năm để hướng đến trạng thái trở thành nước thu nhập cao, nhưng 20 - 30 năm nay họ vẫn thực sự chưa làm được.

GNI (bình quân đầu người được đo bằng đồng USD) của Thái Lan hiện nay đạt khoảng 7.000 USD, Malaysia thì chạm ngưỡng khoảng 12.000 USD, Indonesia cũng tương tự, họ đều cao hơn Việt Nam (4.970 USD vào năm 2025) nhưng tất cả đều chưa trở thành quốc gia phát triển.

Họ đã mất rất nhiều thời gian hoặc có thể nói là bị kẹt trong bẫy thu nhập trung bình, trong khi Việt Nam - một quốc gia với thu nhập trung bình còn thấp hơn lại có tham vọng trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045 thì việc cả hệ thống chính trị đều phải "gấp rút" là điều dễ hiểu.

Bảng phân loại thu nhập các quốc gia, công bố ngày 1/7/2026. (Nguồn: WB).

Theo tính toán của Chuyên gia Kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam Bùi Minh Giáp, nếu Việt Nam muốn đạt mục tiêu trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045, chúng ta cần ít nhất 12 - 14 năm bắt đầu từ bây giờ.

Vậy tại sao lại là bây giờ, bởi đơn giản, 7- 10 năm tới là 'giai đoạn vàng của Việt Nam với tất cả những động lực tốt nhất: Dân số trẻ, đà tăng trưởng ở mức cao nhất khu vực, đầu tư nước ngoài liên tục lập kỷ lục nhờ sự tín nhiệm mà Việt Nam xây dựng được.

"Vậy nên nếu không có khát vọng hay mục tiêu từ bây giờ thì Việt Nam sẽ không bao giờ có được", chuyên gia nói trong cuộc trao đổi với chúng tôi.

Tính toán một cách đơn giản, chúng ta phải đạt được quy mô GDP khoảng 2.200 tỷ USD vào năm 2042 (2025 là 514 tỷ USD) thì mới đạt được ngưỡng thu nhập cao vào năm 2045.

Tuy con số 514 và 2.200 tỷ USD là một khoảng cách rất lớn nhưng nếu tăng trưởng cao liên tục thì mất 12 - 14 năm nữa Việt Nam có thể đạt được. Số năm để Việt Nam đạt được mục tiêu còn bị kéo dài bởi mốc GNI đánh dấu ngưỡng thu nhập cao đều có điều chỉnh theo lạm phát.

Hiện nay ngưỡng GNI với quốc gia thu nhập cao là khoảng 14.000 USD, nhưng đến năm 2042 - 2043, ngưỡng đó có thể phải là 20.000 USD.

Ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia Kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam. (Ảnh: Hạ An).

"Nếu không bắt đầu ngay từ bây giờ – sau 10 năm nữa, dân số chuyển sang già hóa - thì Việt Nam sẽ rất khó khăn. Các trường hợp của Malaysia, Indonesia, Thái Lan là những bài học về việc bị kẹt trong bẫy thu nhập trung bình quá lâu", ông Giáp nói.

Chuyên gia so sánh, từ nước thu nhập thấp lên thu nhập trung bình cao giống như chúng ta đang đi trên một con đường có độ dốc thấp. Còn hiện nay, đi từ thu nhập trung bình lên thu nhập cao, độ dốc sẽ lớn hơn rất nhiều.

"Chúng ta không thể sử dụng những công cụ thông thường mà phải có công nghệ lõi, có AI, có việc phân bổ nguồn lực một cách hợp lý. Câu chuyện quản lý kinh tế trong vòng 10 - 20 năm tới không chỉ đơn thuần là quản lý lạm phát hay tăng trưởng, mà là quản lý nguồn lực, đặc biệt là lực lượng lao động mới cùng với các công nghệ hiện đại", Chuyên gia kinh tế trưởng ADB nhìn nhận. 

Nguồn lực nào để làm nhanh như mục tiêu và kỳ vọng?

Câu hỏi đặt ra thứ hai là, đã quyết định đi trên con đường "dốc" như vậy, chúng ta sẽ thu xếp nguồn lực thế nào để "chạy" về đích? 

Bức tranh tương lai của Việt Nam được vẽ bởi những dự án năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân hay các hạ tầng giao thông mang tính chuyển đổi chứ không phải chỉ đơn thuần là những tuyến cao tốc ngắn hạn, đầu tư nhỏ giọt, kéo dài. Bởi chỉ có sự "đột phá", hạ tầng của Việt Nam mới thực sự chuyển mình, trở thành "bệ phóng" cho nền kinh tế tăng trưởng cao.

Tuy nhiên, đây đều là những dự án có thời hạn dài, thường là từ 20 đến 30 năm, thậm chí 40 - 50 năm. Điều này có nghĩa, tiền cần giải ngân cùng một lúc nhưng rất lâu sau mới có thể thu hồi lại. "Điều đó có nghĩa là chúng ta cần những khoản nợ dài hạn, thứ mà hiện tại chúng ta chưa có đủ", ông Shantanu Chakraborty, Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam thẳng thắn chỉ ra khi trao đổi với chúng tôi.

Theo ước tính của Bộ Tài chính, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng (tương đương 1.464 tỷ USD). Trong đó, khu vực Nhà nước dự kiến đóng góp khoảng 8,5 triệu tỷ đồng; phần còn lại, xấp xỉ 30 triệu tỷ đồng, phải đến từ thị trường tài chính trong nước và quốc tế, FDI, doanh nghiệp, hộ gia đình... 

Nhiều năm nay, tín dụng ngân hàng luôn là chủ thể chính để "gánh" nguồn vốn của nền kinh tế với tỷ trọng 50 - 60% tổng nguồn vốn cung ứng, còn trái phiếu doanh nghiệp (chỉ chiếm 3 - 6%), cổ phiếu (10 - 18%), còn lại là đầu tư công, FDI và vốn tự có của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước đạt 18,4 triệu tỷ đồng, đẩy tỷ lệ tín dụng/GDP lên mức 147%, vượt ngưỡng an toàn theo khuyến cáo của IMF và WB. 

Việc sử dụng nguồn vốn ngắn tài trợ cho những công trình dài hạn không phải là điều lạ bởi ở các quốc gia khác, điều này cũng rất phổ biến. Tuy nhiên, điều quan trọng là sự "lệch pha kỳ hạn" này có thể chấp nhận ở quy mô nhỏ và quan trọng nhất là quản trị rủi ro.

 

Vào tháng 6, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Thông tư cho phép nâng tỷ lệ tối đa ngân hàng được dùng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40%.

"Mặc dù, chiến thuật này có những tác động đáng kể đến việc quản trị rủi ro và thanh khoản, nhưng miễn là có sự chắc chắn về dòng tiền gửi (đặc biệt là cơ chế đảo nợ), thì đây là một công cụ linh hoạt", ông Shantanu Chakraborty đánh giá về động thái mới của NHNN.

Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam cho rằng: "Từ trước đến nay, khi điều hành về rủi ro ngân hàng, chúng ta thông thường sử dụng thước đo là mức độ tuân thủ đối với các quy định. Nhưng trong một vài năm gần đây, tôi theo dõi thấy Ngân hàng Nhà nước đã có rất nhiều ứng dụng để chuyển dịch từ việc 'các ngân hàng thương mại phải tuân thủ quy định' sang hệ thống 'điều hành dựa trên mức độ rủi ro'".

"Chính việc điều hành dựa trên mức độ rủi ro này sẽ giúp Ngân hàng Nhà nước cũng như các bên điều hành biết được ngân hàng A, ngân hàng B đang có vấn đề gì để giải quyết, từ đó giúp đưa ra các giải pháp ngăn ngừa rủi ro một cách sớm nhất. Đây là một điểm rất đáng ghi nhận", Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam đánh giá.

Bên cạnh đó, những công cụ "bơm vốn" cho nền kinh tế cũng đã được kích hoạt, mô hình hợp tác công tư (PPP) như BOT (xây dựng - kinh doanh - chuyển giao) hay BT (xây dựng - chuyển giao) đang phổ biến trở lại. Sự tham gia của khối tư nhân giúp huy động vốn dành cho hạ tầng linh hoạt hơn và nhanh hơn. 

Về bản chất, các mô hình này không tiêu cực như nhiều lầm tưởng trước đó, những lùm xùm xảy ra xung quanh các trạm thu phí BOT hay các dự án BT trước kia là do thiếu tính minh bạch, cạnh tranh.

Nguyên tắc minh bạch, cạnh tranh sẽ điều cốt lõi để dự án vận hành đúng bản chất. Các vấn đề liên quan đến doanh thu, thời gian thanh toán, thời gian hoàn vốn, cơ quan quản lý và giải quyết những tranh chấp phát sinh nếu được thực hiện theo nguyên tắc này sẽ là "hàng rào" bảo vệ dự án đi đúng hướng và hiệu quả.

Bên cạnh đó, thị trường vốn trong nước – hiện đang ở giai đoạn phát triển sơ khai cũng cần phải được thúc đẩy để trở thành nguồn cung cấp nợ dài hạn vĩnh viễn cho việc tạo ra các tài sản này.

Việc thành lập Trung tâm Tài chính Quốc tế  tại Đà Nẵng hay TP HCM hay sắp tới là phát hành trái phiếu hạ tầng là bước đi đúng hướng để thu hút dòng vốn dài hạn vào hệ thống tài chính nhằm hỗ trợ các dự án này.

Ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank). (Ảnh: VGP).

Còn từ góc độ ngân hàng có quy mô lớn nhất Việt Nam, trong một cuộc họp mới đây nhất giữa các doanh nghiệp, ngân hàng và Chính phủ, ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) cũng thẳng thắn đánh giá rằng hiện tại tích lũy vốn tín dụng trong nước không đủ.

Ông Tùng cho biết, để đạt được tăng trưởng GDP 10% thì tỷ lệ đầu tư cần đạt là 40% GDP. Tuy nhiên, tỷ lệ tiết kiệm bình quân trong nước chỉ đạt con số 36,5% (theo tính toán độc lập của nhóm kinh tế vĩ mô Vietcombank), nếu loại trừ phần kinh tế phi chính thức thì việc tiết kiệm trong nước còn thiếu hơn rất nhiều.

Vì vậy, ngân hàng này đề xuất, Bộ Tài chính phát hành trái phiếu quốc tế, bởi với uy tín của Việt Nam hiện nay, trái phiếu quốc tế sẽ được lãi suất tốt, thay vì để các doanh nghiệp tự đi huy động như hiện nay.

Bên cạnh đó, ngành ngân hàng cũng chủ động đề xuất tham gia hỗ trợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp thông qua chính sách liên quan đến nhận tài sản bảo đảm của các đơn vị phát hành.

"Rất nhiều trái phiếu doanh nghiệp phát hành hiện nay khiến nhà đầu tư chưa yên tâm về tài sản bảo đảm (ví dụ bất động sản hay tài sản hình thành từ vốn vay). Chỉ có các tổ chức tín dụng mới có thể nhận được các tài sản này. Nếu đồng bộ cả ngành ngân hàng và tài chính thì sẽ tạo động lực cho trái phiếu doanh nghiệp phát triển", ông Tùng kiến nghị.

Hạ An
CÙNG CHUYÊN MỤC
Vĩ Mô 22/07/2026 16:03
PVOIL: Đã thu xếp 2 triệu thùng dầu thô từ Iraq, từ nay đến cuối năm tiếp tục cung ứng thêm 3 triệu thùng

Theo ông Đỗ Mạnh Bình, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL), từ tháng 5/2026, thông qua PVOIL Singapore, doanh nghiệp này đã thu xếp thành công 2 triệu thùng dầu thô Basrah Medium từ Iraq cho Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn và dự kiến tiếp tục cung ứng thêm 3 triệu thùng từ nay đến cuối năm.

Vĩ Mô 22/07/2026 15:37
Đồng Nai được định hướng thành trung tâm hàng không của châu Á - Thái Bình Dương

Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2045, Đồng Nai trở thành trung tâm hàng không hiện đại của khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Vĩ Mô 22/07/2026 15:01
Bổ sung hai tuyến đường sắt quốc gia mới vào quy hoạch

Bộ Xây dựng vừa điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó bổ sung hai tuyến đường sắt mới Mỹ Thủy - Lao Bảo và Thái Nguyên - Tuyên Quang - Lào Cai.

Vĩ Mô 22/07/2026 14:52
Các doanh nghiệp dầu khí, xăng dầu của Việt Nam đã chuẩn bị gì khi xung đột Trung Đông leo thang trở lại?

Petrovietnam cùng các đơn vị thành viên như BSR, PVEP, PVGAS, PVOIL đã chủ động gia tăng nguồn cung để ứng phó với biến động tại Trung Đông. Mới đây, PVOIL đã thu xếp thành công 2 triệu thùng dầu thô Basrah Medium từ Iraq cho Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn và thêm 3 triệu thùng cho nửa cuối 2026.