|
Ngày 03/06/2026 |
Chênh lệch |
||||
|
Khu vực |
Bình 12kg |
Bình 48kg |
Bình 12kg |
Bình 48kg |
|
|
Miền Bắc |
Hà Nội |
578.664 |
2.314.656 |
- |
- |
|
Hải Phòng |
578.664 |
2.350.944 |
- |
- |
|
|
Miền trung |
Đà Nẵng |
567.000 |
2.183.000 |
- |
- |
|
Miền Nam |
TP HCM |
592.000 |
2.364.000 |
- |
- |
|
Cần Thơ |
555.000 |
2.220.000 |
- |
- |
|
Bảng giá gas từng khu vực ngày 3/6/2026 được cập nhật lúc 10h20. (Tổng hợp: Gia Ngọc)
Khảo sát vào sáng ngày 03/06/2026, giá gas bán lẻ trong nước tiếp tục duy trì trạng thái ổn định, không ghi nhận thêm bất kỳ sự biến động nào sau đợt điều chỉnh trái chiều vào ngày đầu tháng.
Miền Bắc: Giá gas hôm nay tại thị trường Hà Nội tiếp tục được niêm yết ở mức 578.664 đồng đối với bình dân dụng 12kg và 2.314.656 đồng cho bình công nghiệp 48kg. Tương tự, tại Hải Phòng, giá gas hiện tại cho loại bình 12kg vẫn giữ nguyên ở mốc 578.664 đồng, trong khi loại bình 48kg duy trì ở mức 2.350.944 đồng.
Miền Trung: Thị trường Đà Nẵng không có sự thay đổi mới. Mức giá niêm yết cho bình 12kg vẫn đứng yên tại ngưỡng 567.000 đồng và bình 48kg là 2.183.000 đồng.
Miền Nam: giá đổi bình gas 12kg hôm nay tại TP.HCM tiếp tục neo ở mức 592.000 đồng. Đáng chú ý, Cần Thơ vẫn là địa phương có giá năng lượng dễ chịu nhất cả nước với 555.000 đồng cho bình 12kg và 2.220.000 đồng cho bình 48kg.
Đối với các hệ thống phân phối lớn, giá gas Petrolimex hôm nay tại khu vực Hà Nội vẫn giữ mức giá 578.664 đồng cho loại bình 12kg phổ thông.
|
Ngày 03/06/2026 |
Chênh lệch |
||||||
|
Thương hiệu |
Khu vực |
Bình 12kg |
Bình 45kg |
Bình 48 kg (gas công nghiệp) |
Bình 12kg |
Bình 45kg |
Bình 48 kg (gas công nghiệp) |
|
Petrolimex |
Hà Nội |
578.664 |
- |
2.314.656 |
- |
- |
- |
|
SAIGON PETRO |
639.500 |
2.399.000 |
- |
- |
- |
- |
|
|
Pacific Petro |
682.000 |
2.528.000 |
- |
- |
- |
- |
|
|
PV GAS |
Hà Nội |
610.204 |
2.288.265 |
- |
- |
- |
- |
|
TP HCM |
672.081 |
2.520.274 |
- |
- |
- |
- |
|
Bảng giá gas các thương hiệu ngày 3/6/2026 được cập nhật lúc 10h20. (Tổng hợp: Gia Ngọc)
Ghi nhận trong phiên giao dịch sáng ngày 3/6/2026, giá gas bán lẻ từ các thương hiệu lớn đều giữ nguyên mức niêm yết.
Petrolimex: Tại thị trường Hà Nội, giá gas petrolimex hôm nay tiếp tục duy trì ở mức 578.664 đồng cho bình dân dụng 12kg và 2.314.656 đồng đối với dòng bình công nghiệp 48kg.
Saigon Petro: Thương hiệu này niêm yết mức giá gas hiện tại cho loại bình 12kg là 639.500 đồng và loại bình 45kg là 2.399.000 đồng.
Pacific Petro: Sau khi ghi nhận mức tăng vào ngày hôm qua, giá đổi bình gas 12kg hôm nay của hãng đã đi ngang ở ngưỡng 682.000 đồng. Đối với loại bình 45kg, mức giá vẫn được ấn định tại mốc 2.528.000 đồng.
PV GAS: Hãng ghi nhận mức giá gas hôm nay có sự phân hóa theo khu vực địa lý. Tại Hà Nội, bình 12kg niêm yết ở mức 610.204 đồng và bình 45kg là 2.288.265 đồng. Trong khi đó, tại thị trường TP.HCM, mức giá cho hai loại bình này lần lượt là 672.081 đồng và 2.520.274 đồng.
Theo oilprice, nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) của Ấn Độ đang tăng lên trong bối cảnh thị trường khí đốt châu Á trở nên đắt đỏ nhất trong nhiều năm, đi ngược lại xu hướng giảm nhu cầu trong khu vực, vốn đã đẩy các nước mua khác chuyển sang than đá, năng lượng hạt nhân và tiết kiệm năng lượng. Sau khi Qatar ngừng sản xuất khí đốt tự nhiên vào ngày 2 tháng 3 và eo biển Hormuz đóng cửa gần như đồng thời, châu Á đã mất khoảng 5,5 triệu đến 6 triệu tấn nguồn cung LNG mỗi tháng, tương đương với gần một phần tư lượng xuất khẩu của khu vực trước khủng hoảng. Nhập khẩu LNG của châu Á giảm xuống còn 18,8 triệu tấn trong tháng 4, mức thấp nhất kể từ năm 2020, trong khi giá JKM tăng vọt từ mức trước khủng hoảng là 10,4 USD/MMBtu lên 25,3 USD/MMBtu vào cuối tháng 3. Hàn Quốc đã cắt giảm nhập khẩu LNG 1 triệu tấn mỗi tháng từ tháng 2 đến tháng 4, trong khi Nhật Bản giảm mua 1,5 triệu tấn mỗi tháng. Tuy nhiên, Ấn Độ lại đi theo hướng ngược lại: sau khi giảm từ 1,9 triệu tấn trong tháng 2 xuống còn 1,67 triệu tấn trong tháng 3, nhập khẩu LNG của nước này đã tăng lên 2,1 triệu tấn trong tháng 5.
Sự phục hồi này đặc biệt ấn tượng bởi vì Ấn Độ đã mất đi nhà cung cấp truyền thống chủ chốt của mình. Qatar chiếm 11,2 triệu tấn trong tổng số 25 triệu tấn khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) nhập khẩu của Ấn Độ vào năm 2025 (~45%), trở thành nguồn cung cấp quan trọng nhất của nước này. Khi LNG từ Qatar gần như biến mất khỏi dòng nhập khẩu của Ấn Độ, New Delhi đã thay thế lượng thiếu hụt bằng các lô hàng từ Oman, Nigeria và Mỹ. Mỹ đã tăng xuất khẩu sang Ấn Độ hơn sáu lần, từ 137.000 tấn trong tháng 1 lên 907.000 tấn trong tháng 5, trở thành nhà cung cấp LNG lớn nhất của nước này. Nigeria đã tăng gấp đôi lượng hàng xuất khẩu hàng tháng lên 480.000 tấn trong tháng 5, trong khi Oman đạt trung bình khoảng 500.000 tấn mỗi tháng trong tháng 3 và tháng 4 trước khi giảm xuống còn 300.000 tấn trong tháng 5.
Động lực thúc đẩy việc Ấn Độ đẩy mạnh sử dụng khí LNG trở lại không phải là nhu cầu khí đốt mang tính cấu trúc, mà là thời tiết. Lượng tiêu thụ điện của Ấn Độ đã tăng hơn 11% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 164,98 tỷ kWh trong tháng 5 năm 2026 khi nhiệt độ vượt quá 45°C (113°F) ở nhiều vùng trên cả nước, biến máy điều hòa và quạt làm mát sa mạc thành thiết bị thiết yếu để sinh tồn. Nhu cầu điện năng cao điểm đã đạt kỷ lục trong bốn ngày liên tiếp từ ngày 17 đến ngày 21 tháng 5, đạt mức cao nhất mọi thời đại là 270,82 GW vào ngày 21 tháng 5, vượt qua kỷ lục trước đó vào tháng 5 năm 2024 là 250 GW.
Đợt nắng nóng đã phơi bày điểm yếu cốt lõi trong hệ thống điện đang thay đổi nhanh chóng của Ấn Độ, vốn ngày càng phụ thuộc vào năng lượng tái tạo : đó là lượng điện mặt trời dư thừa vào những thời điểm không phù hợp và không đủ khả năng lưu trữ khi mặt trời lặn. Công suất điện mặt trời lắp đặt của Ấn Độ đã bùng nổ trong thời gian gần đây, đạt 154,2 GW vào tháng 4 năm 2026. Sự gia tăng này phản ánh sự kết hợp của các chương trình do chính phủ hỗ trợ, bao gồm trợ cấp cho việc lắp đặt điện mặt trời trên mái nhà dân dụng, mở rộng các công viên năng lượng mặt trời lớn và các ưu đãi để xây dựng năng lực sản xuất mô-đun PV mặt trời trong nước tại Ấn Độ. Sự gia tăng sản lượng điện mặt trời hiện đang đẩy giá điện ban ngày xuống gần bằng không khi sản lượng dồi dào. Nhưng dung lượng pin và lưu trữ không theo kịp, khiến lượng điện mặt trời dư thừa ban ngày không đủ để đáp ứng nhu cầu buổi tối và ban đêm. Do thời tiết khắc nghiệt, vào ban đêm, các thành phố vẫn nóng, nhu cầu làm mát vẫn ở mức cao và giá cả tăng vọt. Vào ngày 21 tháng 5, ngày ghi nhận kỷ lục về nhu cầu điện , Ấn Độ vẫn phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt 2,5 GW điện vào ban đêm.
Đó là khi khí LNG được đưa vào hệ thống ngay cả với giá không kinh tế. Đầu tháng 4, Bộ Năng lượng Ấn Độ đã chỉ đạo tất cả các nhà máy điện khí đốt sẵn sàng hoạt động trong trường hợp thiếu điện do nắng nóng. Một phần lớn các nhà máy điện khí đốt của Ấn Độ đã không hoạt động vì lý do thương mại: quốc gia này là một nhà sản xuất than lớn và từ lâu đã chủ yếu dựa vào than đá trong nước để sản xuất điện nhiệt. Riêng than đá đã đáp ứng khoảng hai phần ba nhu cầu điện, trong khi tổng sản lượng điện nhiệt chiếm khoảng 71% sản lượng tháng 5, phần lớn là điện than. Điện khí đốt chỉ đóng góp khoảng 10 GW trong thời kỳ nhu cầu cao, với công suất tối đa khoảng 20 GW, chỉ chiếm khoảng 4% tổng công suất lắp đặt và khoảng 1,5% sản lượng điện thực tế.
Tình trạng thiếu điện chỉ xảy ra vào những thời điểm nhất định trong ngày, chứ không phải suốt cả ngày. Điều đó khiến khí đốt trở nên có giá trị bất chấp chi phí cao. Các nhà máy điện khí có thể được lên lịch hoạt động trong những khung giờ ngắn vào ban đêm, không giống như các nhà máy điện than, vốn phù hợp hơn cho hoạt động tải nền và công suất cao. Với giá khí đốt tự nhiên (JKK) vẫn ở mức khoảng 18 USD/MMBtu, việc sản xuất điện bằng khí đốt khó có thể hấp dẫn về mặt thương mại đối với các nhà sản xuất, nhưng thỏa thuận của chính phủ cho phép Grid-India xác định trước giờ hoạt động của các nhà máy điện khí vài ngày, giúp hệ thống có thể được sử dụng như công suất dự phòng khẩn cấp.
Các nhà máy nhiệt điện than không thể giải quyết mọi sự thiếu hụt. Các nhà máy nhiệt điện than hiện đang gánh phần lớn nhu cầu, và khoảng 2,1 GW công suất nhiệt điện than hiện không hoạt động do bảo trì theo kế hoạch hoặc các sự cố khác. Các nhà máy khác phải đối mặt với những hạn chế về hậu cần và giới hạn về khả năng vận hành. Các nhà máy nhiệt điện than nhập khẩu, chủ yếu nằm dọc bờ biển, đã được đưa vào hoạt động nhiều hơn – chúng thường hoạt động với công suất thấp hơn ngoài mùa cao điểm, đó là lý do tại sao Ấn Độ thường thấy sự gia tăng theo mùa về nhập khẩu than trong những tháng cuối xuân/hè.
Thủy điện có thể là một lựa chọn linh hoạt khác, nhưng thời điểm triển khai lại không thuận lợi. Thủy điện quy mô lớn chiếm khoảng 51 GW, tương đương khoảng 10% tổng công suất lắp đặt, và có thể tăng công suất nhanh hơn than đá hoặc khí đốt mà không tốn chi phí nhiên liệu. Tuy nhiên, hiện tại Ấn Độ đang ở giai đoạn cuối trước mùa mưa, khi các hồ chứa đã cạn kiệt một phần. Vào ngày 30 tháng 5, sản lượng thủy điện đạt 15 GW, thấp hơn 18% so với kế hoạch của Cơ quan Điện lực Trung ương. Mùa mưa sắp tới (thường mang lại khoảng 70% lượng mưa hàng năm) thường sẽ bổ sung lượng nước đã cạn kiệt trong các hồ chứa và khơi dậy hy vọng rằng thủy điện có thể giúp giảm bớt khủng hoảng. Tuy nhiên, năm nay dự kiến sẽ khác. Hiện tượng Siêu Niño được dự báo sẽ làm suy yếu mùa mưa, có khả năng kéo lượng mưa xuống mức thấp nhất trong 11 năm và làm trì hoãn sự bắt đầu của mùa mưa vào cuối tháng 6. Lượng mưa thấp hơn cũng có nghĩa là nhiệt độ cao hơn sẽ kéo dài hơn trong mùa, làm tăng thêm lo ngại về tình trạng thiếu điện kéo dài mà vẫn cần phải được bù đắp.
Điều đó khiến LNG trở thành nhiên liệu thay thế tạm thời cho cuộc khủng hoảng điện mùa hè ở Ấn Độ. Về lý thuyết, Ấn Độ vẫn có thể tăng gấp đôi sản lượng điện khí từ mức hiện tại là 10 GW lên tới 20 GW, và với nhiệt độ trung bình trong hai tháng qua cao hơn khoảng 2 độ C so với mức bình thường theo mùa, tháng 6 và tháng 7 có thể chứng kiến việc mua LNG nhiều hơn nữa. Trớ trêu thay, Ấn Độ nhập khẩu nhiều LNG hơn không phải vì giá khí đốt đã giảm, mà vì các nguồn thay thế khác đang bị hạn chế. Ở hầu hết các nước châu Á, giá LNG cao đang làm giảm nhu cầu. Tại Ấn Độ, cái nóng, sự thiếu hụt trong việc lưu trữ năng lượng mặt trời và nhu cầu về điện năng có thể điều chỉnh vào ban đêm đang giúp LNG tồn tại. Cho đến khi New Delhi có thể lưu trữ được lượng điện năng mặt trời dồi dào, họ sẽ tiếp tục mua khí đốt đắt đỏ để vượt qua những đêm hè nóng bức và tối tăm ở Ấn Độ.
Ảnh: Gia Ngọc