Thị trường heo hơi miền Bắc hôm nay tiếp tục đi xuống tại một số địa phương.
Cụ thể, heo hơi tại các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Phú Thọ và Hưng Yên cùng giảm 1.000 đồng/kg, hiện thu mua ở mức 62.000 đồng/kg.
Tuyên Quang giữ nguyên mức 62.000 đồng/kg. Bên cạnh đó, các địa phương Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hà Nội, Điện Biên và Sơn La tiếp tục đi ngang ở mức 63.000 đồng/kg.
Ngoài ra, Lào Cai và Lai Châu duy trì mức 62.000 đồng/kg, không ghi nhận biến động mới.
Hiện giá heo hơi tại miền Bắc dao động từ 62.000 đồng/kg đến 63.000 đồng/kg.
|
Địa phương |
Giá (đồng) |
Tăng/giảm (đồng) |
|
Tuyên Quang |
62.000 |
- |
|
Cao Bằng |
62.000 |
-1.000 |
|
Thái Nguyên |
63.000 |
- |
|
Lạng Sơn |
62.000 |
-1.000 |
|
Quảng Ninh |
63.000 |
- |
|
Bắc Ninh |
62.000 |
-1.000 |
|
Hà Nội |
63.000 |
- |
|
Hải Phòng |
62.000 |
-1.000 |
|
Ninh Bình |
62.000 |
-1.000 |
|
Lào Cai |
62.000 |
- |
|
Lai Châu |
62.000 |
- |
|
Điện Biên |
63.000 |
- |
|
Phú Thọ |
62.000 |
-1.000 |
|
Sơn La |
63.000 |
- |
|
Hưng Yên |
62.000 |
-1.000 |
Giá heo hơi hôm nay tại miền Bắc. (Tổng hợp: Hà My)
Tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên, giá heo hơi hôm nay ghi nhận mức giảm rõ rệt hơn so với miền Bắc.
Cụ thể, giá heo tại Đắk Lắk giảm mạnh 2.000 đồng/kg, xuống còn 65.000 đồng/kg. Thanh Hóa và Hà Tĩnh cùng giảm 1.000 đồng/kg, lần lượt về mức 61.000 đồng/kg và 60.000 đồng/kg. Lâm Đồng cũng giảm 1.000 đồng/kg, hiện còn 67.000 đồng/kg.
Ở chiều đi ngang, Nghệ An giữ mức 61.000 đồng/kg. Các địa phương Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai và Khánh Hòa tiếp tục ổn định ở mức 65.000 đồng/kg.
Hiện giá heo hơi tại miền Trung – Tây Nguyên dao động từ 60.000 đồng/kg đến 67.000 đồng/kg.
|
Địa phương |
Giá (đồng) |
Tăng/giảm (đồng) |
|
Thanh Hoá |
61.000 |
-1.000 |
|
Nghệ An |
61.000 |
- |
|
Hà Tĩnh |
60.000 |
-1.000 |
|
Quảng Trị |
65.000 |
- |
|
Huế |
65.000 |
- |
|
Đà Nẵng |
65.000 |
- |
|
Quảng Ngãi |
65.000 |
- |
|
Gia Lai |
65.000 |
- |
|
Đắk Lắk |
65.000 |
-2.000 |
|
Khánh Hoà |
65.000 |
- |
|
Lâm Đồng |
67.000 |
-1.000 |
Giá heo hơi hôm nay tại miền Trung, Tây Nguyên. (Tổng hợp: Hà My)
Thị trường heo hơi miền Nam hôm nay ghi nhận xu hướng giảm tại nhiều địa phương.
Cụ thể, giá heo tại Đồng Tháp, Vĩnh Long và Cần Thơ cùng giảm 2.000 đồng/kg, lần lượt xuống mức 68.000 đồng/kg, 67.000 đồng/kg và 66.000 đồng/kg.
Heo hơi tại Tây Ninh, TP HCM, An Giang và Cà Mau đồng loạt giảm 1.000 đồng/kg. Sau điều chỉnh, Tây Ninh và TP HCM cùng đạt 68.000 đồng/kg, trong khi An Giang và Cà Mau ở mức 66.000 đồng/kg.
Riêng Đồng Nai giữ nguyên mức 69.000 đồng/kg, tiếp tục là địa phương có giá cao nhất khu vực.
Hiện giá heo hơi tại miền Nam dao động từ 66.000 đồng/kg đến 69.000 đồng/kg.
|
Địa phương |
Giá (đồng) |
Tăng/giảm (đồng) |
|
Đồng Nai |
69.000 |
- |
|
Tây Ninh |
68.000 |
-1.000 |
|
Đồng Tháp |
68.000 |
-2.000 |
|
An Giang |
66.000 |
-1.000 |
|
Cà Mau |
66.000 |
-1.000 |
|
TP HCM |
68.000 |
-1.000 |
|
Vĩnh Long |
67.000 |
-2.000 |
|
Cần Thơ |
66.000 |
-2.000 |
Giá heo hơi hôm nay tại miền Nam. (Tổng hợp: Hà My)
Nhìn chung, thị trường heo hơi ngày 31/3 tiếp tục xu hướng giảm trên diện rộng, với mức giảm phổ biến từ 1.000 đồng/kg đến 2.000 đồng/kg. Miền Trung – Tây Nguyên là khu vực có giá thấp nhất cả nước, trong khi miền Nam vẫn duy trì mặt bằng giá cao hơn, dù đã xuất hiện điều chỉnh giảm tại nhiều địa phương.
Ảnh: Hà My
Theo Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam, trong bối cảnh tình hình địa chính trị tại Trung Đông diễn biến phức tạp, nguy cơ gián đoạn các tuyến vận tải biển quốc tế và giá năng lượng tăng mạnh đang đặt ra nhiều thách thức đối với chuỗi cung ứng nguyên liệu TĂCN. Đối với Việt Nam – quốc gia phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu, việc chủ động xây dựng các kịch bản ứng phó được xem là giải pháp cần thiết nhằm hạn chế rủi ro và duy trì ổn định sản xuất của ngành chăn nuôi.
Xung đột tại Trung Đông, chủ yếu liên quan đến căng thẳng Hoa Kỳ – Israel với Iran từ cuối tháng 02/2026, đang gây ra những xáo trộn đáng kể đối với chuỗi cung ứng toàn cầu. Việc phong tỏa một phần eo biển Hormuz – tuyến vận tải chiến lược của thế giới khiến lưu lượng tàu qua khu vực này giảm tới 70-75%.
Diễn biến này đã đẩy giá dầu thế giới tăng mạnh, với dầu Brent dao động 80-95 USD/ thùng và có khả năng vượt ngưỡng 100 USD/ thùng. Giá năng lượng tăng kéo theo chi phí vận chuyển và sản xuất phân bón leo thang, từ đó tạo hiệu ứng dây chuyền lên giá nguyên liệu nông sản.
Theo các dữ liệu thị trường quốc tế, giá phân bón urea đã tăng khoảng 20%, trong khi ammonia và lưu huỳnh tăng 20-30%. Các nguyên liệu chính phục vụ sản xuất TĂCN cũng ghi nhận xu hướng tăng: ngô tăng 2-4%, đậu tương tăng 1-2%, lúa mì lên mức cao nhất trong vòng 8 tháng.
Đối với thị trường phụ gia TĂCN toàn cầu có quy mô 37-58 tỷ USD, nguy cơ gián đoạn nguồn cung đang đẩy giá các axit amin quan trọng như lysine và methionine tăng 25-60%. Trong khi đó, giá phân bón – yếu tố đầu vào quan trọng cho sản xuất nguyên liệu nông nghiệp tăng 10-20% do Trung Đông chiếm tới 25-30% xuất khẩu nitơ và 30-35% ammonia toàn cầu. Bên cạnh đó, bất ổn địa chính trị cũng tác động đến thị trường tài chính, làm tăng áp lực lên tỷ giá USD/VNĐ, qua đó gián tiếp khiến chi phí nhập khẩu nguyên liệu tính bằng USD tăng lên.
Đối với Việt Nam, phần lớn nguyên liệu TĂCN như ngô và đậu tương được nhập khẩu từ Hoa Kỳ và Brazil. Khi giá nhiên liệu tăng, chi phí logistics cũng leo thang, kéo theo giá TĂCN hoàn chỉnh trong nước có thể tăng khoảng 5-10%. Thực tế từ đầu tháng 3/2026, nhiều doanh nghiệp sản xuất TĂCN tại Việt Nam đã thông báo điều chỉnh giá bán một số sản phẩm, chủ yếu là cám gia cầm, cám lợn và cám đậm đặc, với mức tăng phổ biến 200-300 đồng/ kg nhằm bù đắp chi phí nguyên liệu và vận chuyển gia tăng.
Không chỉ ngành TĂCN, một số doanh nghiệp kinh doanh thuốc thú y và sản phẩm chăn nuôi xuất khẩu sang khu vực Trung Đông cũng cho biết chi phí vận tải và nguyên liệu đầu vào đang có xu hướng tăng nhanh.