Kết thúc phiên giao dịch 15/1, giá thép thanh kỳ hạn tháng 2/2026 trên Sàn Thượng Hải tăng 0,5% (15 nhân dân tệ) lên mức 3.129 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Đại Liên, giá quặng sắt giảm 0,5% (4,5 nhân dân tệ) về mức 834,5 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Singapore, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 2/2026 giảm 0,99 USD về mức 107,06 USD/tấn.
Diễn biến giá thép thanh kỳ hạn tháng 2/2026 trên Sàn SHFE. Nguồn: Barchart
Giá thép và quặng sắt đi xuống khi sản lượng gang sụt giảm trong bối cảnh việc khôi phục sản xuất ở các nhà máy thép Trung Quốc còn chậm, theo Reuters.
Hợp đồng quặng sắt giao tháng 5/2026 được giao dịch nhiều nhất trên Sàn Giao dịch Hàng hóa Đại Liên (DCE) của Trung Quốc đóng cửa phiên ban ngày giảm 1,03% xuống còn 813 nhân dân tệ (116,63 USD)/tấn. Trước đó trong phiên, hợp đồng này đã chạm mức thấp nhất kể từ ngày 9/1 tại 812 nhân dân tệ.
Theo dữ liệu do Shanghai Metals Market (SMM) công bố, sản lượng gang ở các nhà máy thép lớn của Trung Quốc giảm 0,26% so với tuần trước, tương đương gần 2 triệu tấn, do một số nhà máy thép chậm tái khởi động sản xuất vào đầu tháng 1. Nhiều nhà máy khác cũng tiến hành bảo trì định kỳ hằng năm theo kế hoạch.
Các giao dịch quặng giao ngay tại cảng cũng diễn ra trầm lắng, khi các thương nhân và nhà máy thép vẫn thận trọng trong việc tích trữ hàng hóa ngoài nhu cầu bổ sung thiết yếu cho kỳ nghỉ Tết Nguyên đán. Bên cạnh đó, áp lực nguồn cung do tồn kho gia tăng đã hạn chế dư địa tăng giá của quặng sắt, theo SMM. Tuy nhiên, dữ liệu cho thấy, xuất khẩu thép hàng tháng của Trung Quốc đạt mức kỷ lục trong tháng 12 đã phần nào hỗ trợ thị trường.
“Nhìn chung, nhu cầu dường như được thúc đẩy bởi nhu cầu toàn cầu mạnh mẽ, bù đắp cho sự suy yếu của nhu cầu trong nước,” ANZ Research nhận định trong một báo cáo.
Trong khi đó, lượng nhập khẩu quặng sắt đạt mức cao kỷ lục trong tháng 12 cùng với dự báo khối lượng quặng vận chuyển sang Trung Quốc sẽ tăng được cho là sẽ tiếp tục gây áp lực lên giá.
Các nguyên liệu sản xuất thép khác trên sàn DCE cũng đồng loạt giảm, trong đó than luyện cốc và than cốc lần lượt giảm 1% và 0,11%. Các hợp đồng thép chuẩn trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải diễn biến trái chiều gồm thép cây giảm 0,13%, thép cuộn cán nóng đi ngang, thép dây tăng 0,15%, trong khi thép không gỉ tăng mạnh 3,51%.
Trong nước, giá thép xây dựng bình ổn. Cụ thể, Hòa Phát báo giá thép D10 CB300 ở mức 13.800 đồng/kg, tương đương giá thép CB240. Tương tự, Thép Việt Đức miền Bắc ghi nhận giá thép CB240 và D10 CB300 lần lượt 13.550 và 13.350 đồng/kg.
Tại thép Việt Ý miền Bắc, giá thép CB240 ở mức 13.640 đồng/kg, CB300 bình ổn 13.380 đồng/kg. Các doanh nghiệp khác cũng giữ giá ổn định.
Giá thép ghi nhận tới ngày 16/1/2026. Nguồn: SteelOnline
Giá sầu riêng hôm nay (16/1) ổn định tại các khu vực thu mua trọng điểm, sầu riêng cao cấp vẫn giữ giá tốt và được xem là mặt hàng chiến lược, dự kiến đóng góp khoảng 4 tỷ USD, chiếm 40–45% kim ngạch xuất khẩu rau quả năm 2025 và tiếp tục là động lực tăng trưởng của ngành trong năm 2026.
Giá bạc trong nước hôm nay chững lại, khi bạc thỏi Phú Quý và Ancarat vẫn neo quanh 94 – 95 triệu đồng/kg, duy trì mặt bằng giá cao sau chuỗi tăng nóng. Giá bạc quay đầu giảm nhẹ sau khi lập đỉnh lịch sử gần 94 USD/ounce, khi áp lực chốt lời gia tăng và nhu cầu trú ẩn an toàn tạm thời hạ nhiệt trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị dịu bớt.
Giá cao su tại các thị trường chính diễn biến trái chiều khi giới đầu tư gia tăng hoạt động chốt lời và giá dầu suy yếu.
Giá tiêu hôm nay tại thị trường trong nước giảm 500 – 1.000 đồng/kg, xuống còn 148.500 – 151.000 đồng/kg. Tương tự, giá tiêu xuất khẩu cũng giảm mạnh 200 USD/tấn. Mặc dù sản lượng tiêu của Việt Nam trong năm 2026 có thể giảm 15 – 20%, nhưng do giá cao nên nhu cầu của một số nước có thể chậm lại, đặc biệt là Mỹ.