Kết thúc phiên giao dịch 19/2, giá thép thanh kỳ hạn tháng 4 trên Sở Giao dịch Thượng Hải (SHFE) tăng nhẹ 0,37% (12 Nhân dân tệ) lên mức 3.277 NDT/tấn. Tương tự, giá quặng sắt trên Sàn Đại Liên (DCE) cũng tăng 0,8% (7 NDT) lên 823 NDT/tấn và trên Sàn Singapore tăng 0,26% (0,28 USD) lên mức 106,25 USD/tấn.
Giá thép thanh kỳ hạn tháng 4 trên Sàn SHFE. Nguồn: Barchart
Theo dữ liệu từ Ukrmetprom, trong tháng 1 năm 2025, Ukraine đã tăng mức tiêu thụ các sản phẩm thép (thép cán và bán thành phẩm) lên 115,6% so với cùng kỳ năm trước, đạt 297,1 ngàn tấn.
Trong tháng, Ukraine nhập khẩu 103 ngàn tấn sản phẩm thép, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm 2024. Lượng nhập khẩu chiếm 34,1% thị trường tiêu thụ thép cán trong nước. Tỷ trọng lượng nhập khẩu trong tổng mức tiêu thụ sản phẩm thép nội địa tăng thêm 7,58 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Cơ cấu nhập khẩu cho thấy sự gia tăng đáng kể của thép tấm so với thép dài, với tỷ lệ lần lượt là 86,5% và 10,8%. Vào tháng 1 năm 2024, thép tấm cũng chiếm ưu thế lớn so với thép dài, với tỷ lệ 83,9% và 15,2%.
Tổng cộng, các nhà sản xuất thép Ukraine đã sản xuất 430,8 ngàn tấn thép cán trong tháng, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, lượng thép xuất khẩu đạt 286,1 ngàn tấn, giảm 28,5% so với năm trước.
Thị trường nội địa nhận được 194,1 ngàn tấn thép cán và bán thành phẩm, tăng 550% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 1, các nhà sản xuất thép Ukraine đã tăng đáng kể lượng cung ứng cho thị trường nội địa, khiến tỷ lệ xuất khẩu chỉ chiếm 59,6% tổng sản lượng tháng, giảm so với mức 88,4% của một năm trước đó.
Về xuất khẩu, tỷ trọng thép tấm trong xuất khẩu tăng lên 54,3%, so với mức 33,6% của năm trước. Tỷ trọng thép dài trong xuất khẩu cũng tăng lên 17,4% so với 10,8% của năm trước. Trong khi đó, tỷ trọng bán thành phẩm trong xuất khẩu giảm xuống còn 28,2%, so với 55,6% của năm trước.
Theo Cơ quan Hải quan Nhà nước Ukraine, các thị trường xuất khẩu chính của thép cán Ukraine trong tháng 1 năm 2025 là Liên minh châu Âu (69,6%), phần còn lại của châu Âu (12,4%) và châu Phi (7,7%). Về nhập khẩu thép, các nước châu Âu khác chiếm vị trí đầu tiên (61,3%), tiếp theo là EU (24,7%) và thứ ba là các nước châu Á (13,8%).
Theo báo cáo trước đó của GMK Center, tiêu thụ sản phẩm thép tại Ukraine trong năm 2024 giảm 6,3% so với cùng kỳ năm trước, xuống còn gần 3,3 triệu tấn. Trong cả năm, Ukraine đã nhập khẩu 1,23 triệu tấn sản phẩm thép, tăng 10,2% so với năm trước, và xuất khẩu khoảng 4,2 triệu tấn, tăng 39,7% so với cùng kỳ. Sản lượng thép trong nước đạt 6,2 triệu tấn, tăng 15,8% so với năm trước.
Trong nước, giá thép thanh của các doanh nghiệp lớn vẫn ghi nhận bình ổn. Cụ thể, giá thép CB240 giao dịch khoảng 13.640-13.800đ/kg, trong khi thép D10 CB300 có giá khoảng 13.700-13.840đ/kg.
Giá thép ghi nhận tới ngày 20/2/2025. Nguồn: SteelOnline
Xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm đạt 1,4 triệu tấn, tăng 15,4% về khối lượng so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, kim ngạch giảm 7,3% xuống 6,54 tỷ USD trong bối cảnh giá xuất khẩu bình quân giảm gần 20%.
Giá sầu riêng hôm nay (2/10) tiếp tục đi ngang tại các vùng thu mua trọng điểm. Gần 100 nhà vườn kết nối cùng hiệp hội, doanh nghiệp và các đơn vị kiểm nghiệm, công nghệ để tìm giải pháp sản xuất.
Giá dầu thô tiếp đà tăng trong phiên sáng ngày thứ Sáu (2/10) sau thông tin Mỹ điều thêm binh sĩ và tàu sân bay tới Trung Đông, trong khi Trung Quốc đình chỉ xuất khẩu các sản phẩm dầu mỏ, làm dấy lên lo ngại tình trạng thiếu hụt nhiên liệu toàn cầu có thể trở nên nghiêm trọng hơn.
Giá vàng thế giới giảm nhẹ trong phiên sáng ngày thứ Sáu (2/10) sau khi tăng vào hôm trước, vì số liệu lạm phát Mỹ thấp hơn dự kiến làm giảm khả năng Fed tăng lãi suất trong tháng 10, trong khi nhà đầu tư chờ đợi báo cáo việc làm quan trọng của Mỹ được công bố vào cuối tuần này.