Mở cửa phiên giao dịch 24/2, giá thép thanh kỳ hạn tháng 4 trên Sở Giao dịch Thượng Hải (SHFE) tăng 6 Nhân dân tệ lên 3325 NDT/tấn. Tương tự, giá quặng sắt trên Sàn Đại Liên (DCE) cũng tăng 0,1% (1,2 NDT) lên 845,7 NDT/tấn; trong khi đó trên Sàn Singapore đi ngang ở mức 108,2 USD/tấn.
Giá thép thanh kỳ hạn tháng 4 trên Sàn SHFE. Nguồn: Barchart
Theo GMK Center đưa tin, ngành công nghiệp thép Trung Quốc gần đây đã giảm tổng mức tiêu thụ năng lượng và cải thiện việc sử dụng các nguồn năng lượng sạch.
Tháng 1 vừa qua, các nhà sản xuất thép Trung Quốc – gồm những thành viên của Hiệp hội Thép CISA đã giảm tổng mức tiêu thụ năng lượng của họ khoảng 0,29% so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức tiêu thụ năng lượng mỗi tấn thép giảm 0,33% so với năm trước, trong khi mức tiêu thụ điện mỗi tấn thép tăng 0,19%, theo CISA.
Tổng mức tiêu thụ điện tăng 3,13%, trong khi sản xuất điện tự cung cấp tăng 8,69%, làm tăng tỷ trọng trong cân bằng năng lượng thêm 2,95 điểm phần trăm. Sản xuất bằng năng lượng sạch của ngành tăng 40,23%, trong đó năng lượng mặt trời tăng 51,46%.
Mức tiêu thụ nước của các doanh nghiệp thép giảm 1.574 mét khối (giảm 0,20%). Đồng thời, lượng nước lấy vào tăng 11,45%, trong khi tái chế nước giảm 0,39%. Tỷ lệ tái sử dụng nước tổng thể vẫn cao ở mức 98,27%, mặc dù thấp hơn một chút so với năm trước.
Lượng nước thải xả ra giảm 3,14%, trong khi nồng độ amoniac và chất rắn lơ lửng trong nước giảm lần lượt là 9,25% và 12,16%. Khí thải ô nhiễm không khí tăng 2,61%, nhưng các doanh nghiệp đã giảm được khí sulfur dioxide xuống 12,64%, bụi mịn xuống 3,55% và oxit nitơ xuống 12,54%.
Ngành thép tiếp tục sử dụng hiệu quả chất thải công nghiệp rắn. Tỷ lệ sử dụng xỉ thép, xỉ lò cao và bụi chứa sắt vẫn trên 97%. Lượng khí lò cao giảm đáng kể và tỷ trọng của nó trong bảng cân đối tổng thể giảm 0,13 điểm phần trăm. Khối lượng sử dụng khí chuyển đổi mỗi tấn thép tăng 4,68%.
Vào năm 2024, tổng lượng khí thải trong ngành thép Trung Quốc tăng 4,1% so với năm 2023. Công suất lò cao tăng so với các cơ sở lò điện đã làm gia tăng khí thải trong ngành mặc dù sản lượng thép hàng năm giảm.
Trong nước, các doanh nghiệp thép đồng loạt điều chỉnh giá thép vào cuối tuần trước, mức giảm ghi nhận quanh mức 200đ/kg. Cụ thể, Hòa Phát hạ giá thép CB240 khoảng 210đ/kg xuống mức 13.480đ/kg, trong khi thép CB300 giảm 260đ/kg về mức 13.580đ/kg. Ở các doanh nghiệp khác, giá thép CB240 dao động khoảng 13.360 – 13.800đ/kg, trong khi thép D10 CB300 khoảng 13560 – 13850 đ/kg.
Giá thép ghi nhận tới ngày 24/2/2025. Nguồn: SteelOnline
Sau nhịp điều chỉnh giảm trong phiên liền trước, thị trường vàng trong nước chiều 11/2 tạm thời ổn định trở lại. Giá vàng miếng SJC đồng loạt neo tại mốc 181 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn tròn trơn và các dòng nữ trang 24K, 18K cũng duy trì mặt bằng cao tại nhiều hệ thống kinh doanh lớn.
Giá bạc hôm nay đi ngang sau sóng lớn, bạc miếng ổn định quanh 3 triệu đồng/lượng. Giá bạc tạm lắng quanh mốc 80 USD/ounce, nhưng tình trạng thiếu hụt nguồn cung kéo dài vẫn giữ triển vọng tăng giá trong trung và dài hạn.
Giá sầu riêng hôm nay (11/2) tiếp tục lặng sóng tại các vùng thu mua trọng điểm, Sầu riêng là mặt hàng xuất khẩu chủ lực với kim ngạch tỷ USD, song đang đối mặt nhiều thách thức về chất lượng và truy xuất nguồn gốc, đòi hỏi hướng đi bền vững để giữ vững thị trường.
Giá cao su kỳ hạn tại Trung Quốc và Thái Lan tiếp tục khởi sắc trong phiên giao dịch, được hỗ trợ nhờ lực mua của thị trường quốc tế.