Kết thúc phiên giao dịch ngày 26/10, giá thép thanh kỳ hạn tháng 11/2026 trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE) đi ngang so với phiên trước, duy trì ở mức 3.083 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Giao dịch Đại Liên (DCE), giá quặng sắt kỳ hạn tháng 11 giảm 4,5 nhân dân tệ (0,66%) xuống mức 675 nhân dân tệ/tấn.
Trong khi đó, trên Sàn Giao dịch Singapore (SGX), giá quặng sắt kỳ hạn tháng 11 giảm 0,04 USD (0,04%) xuống mức 90,5 USD/tấn.
Diễn biến giá thép thanh kỳ hạn tháng 11/2026 trên Sàn SHFE. Nguồn: Barchart
Giá quặng sắt giao dịch trong biên độ hẹp, khi nhà đầu tư lo ngại về nhu cầu suy yếu tại Trung Quốc nhưng đồng thời cũng kỳ vọng Bắc Kinh đưa ra các biện pháp kích thích mới nhằm hỗ trợ nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, theo Reuters.
Hợp đồng quặng sắt giao dịch nhiều nhất trên Sàn DCE kết thúc phiên giao dịch ban ngày tăng 0,07% lên 671,5 nhân dân tệ (100,70 USD)/tấn.
Mức tiêu thụ quặng sắt giảm trong bối cảnh lợi nhuận của các nhà sản xuất thép duy trì ở mức thấp, do nhu cầu hạ nguồn trì trệ trong khi giá nguyên liệu đầu vào vẫn neo cao. Theo số liệu của công ty tư vấn Mysteel, sản lượng gang lỏng bình quân ngày, thước đo nhu cầu quặng sắt, giảm 0,5% so với tuần trước xuống 2,32 triệu tấn tính đến ngày 22/10, mức thấp nhất kể từ cuối tháng 3.
Các nhà sản xuất thép Trung Quốc vẫn thận trọng trong việc bổ sung nguyên liệu và chỉ mua đủ dùng, theo các nhà phân tích tại công ty môi giới Zhengxin Futures. Tuy nhiên, đà giảm của giá quặng sắt được hạn chế nhờ kỳ vọng Bắc Kinh tung ra các biện pháp kích thích mới. Dù tăng trưởng kinh tế quý III của Trung Quốc vượt kỳ vọng và đang đi đúng hướng để đạt mục tiêu 4,5 - 5% của cả năm, các nhà phân tích cho rằng nước này sẽ cần thêm biện pháp kích thích để thúc đẩy tăng trưởng trong quý I năm sau.
Các nguyên liệu sản xuất thép khác như than luyện cốc và than cốc lần lượt giảm 0,46% và 0,29% do kỳ vọng nguồn cung phục hồi nhanh hơn. Các hợp đồng thép tham chiếu trên Sàn SHFE đồng loạt đi xuống. Trong đó, giá thép thanh giảm 0,2%, thép cuộn cán nóng giảm 0,41% và thép không gỉ giảm 0,66%.
Về nhập khẩu, Trung Quốc nhập khẩu 109,82 triệu tấn quặng sắt trong tháng 9, tăng 1,2% so với tháng 8. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, lượng quặng sắt nhập khẩu của nước này đạt 954,97 triệu tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, theo số liệu hải quan. Công ty phân tích DBX Commodities ước tính lượng quặng sắt nhập khẩu bằng đường biển của Trung Quốc trong tháng 10 đạt 105,7 triệu tấn, tương đương tháng 9.
Nhập khẩu tăng dù ngành thép Trung Quốc đang gặp khó khăn do lợi nhuận thấp và sản lượng giảm trong bối cảnh lĩnh vực xây dựng nhà ở suy yếu. Sản lượng thép của nước này trong 9 tháng đầu năm giảm 2,9% xuống 724,77 triệu tấn. Theo công ty tư vấn SteelHome, tồn kho quặng sắt tại các cảng Trung Quốc ở mức 152,23 triệu tấn trong tuần kết thúc ngày 23/10, tăng 14% so với mức 133,6 triệu tấn cùng kỳ năm 2025.
Trung Quốc mua khoảng 75% lượng quặng sắt giao dịch bằng đường biển trên toàn cầu, trong khi Australia cung cấp khoảng hai phần ba nhu cầu của nước này. Tập đoàn Tài nguyên Khoáng sản Trung Quốc (CMRG), đơn vị thu mua do nhà nước kiểm soát, đóng vai trò trung gian giữa các công ty khai khoáng và nhà máy thép, đã áp dụng một loạt biện pháp đối với các công ty khai khoáng Australia như Rio Tinto, BHP và Fortescue. Giới thị trường xem đây là nỗ lực nhằm tăng quyền kiểm soát đối với giá và các hợp đồng cung ứng quặng sắt.
Theo những người nắm rõ vấn đề, CMRG đã đạt được thỏa thuận cung ứng với Rio Tinto, công ty khai thác quặng sắt lớn nhất thế giới trong tuần trước, song chi tiết thỏa thuận chưa được công bố. Thỏa thuận được đưa ra sau khi hồi tháng 8, CMRG yêu cầu một số nhà máy thép tạm dừng đàm phán với Rio Tinto về các lô hàng xếp tàu tháng 9. Tranh chấp tương tự giữa CMRG và BHP đã được giải quyết hồi tháng 4.
CMRG hiện vẫn đang tranh chấp với Fortescue. Ngày 22/10, Fortescue cho biết hoạt động của công ty có thể bị ảnh hưởng nếu các cuộc đàm phán không kết thúc trước cuối năm nay.
Trong nước, các doanh nghiệp bình ổn giá thép xây dựng. Trong đó, Hòa Phát báo giá mức 14.920 đồng/kg với thép CB240 và 14.210 đồng/kg với D10 CB300; thép Việt Ý Miền Bắc ghi nhận CB240 14.750 đồng/kg và CB300 13.940 đồng/kg. Trong khi đó, Pomina và VJS Miền Bắc đều báo giá CB240 ở mức 14.850 đồng/kg; còn thép Kyoei và VAS Miền Trung chào giá 15.050 đồng/kg.
Giá thép ghi nhận tới ngày 28/10/2026. Nguồn: SteelOnline
Giá cao su kỳ hạn tại Nhật Bản giảm xuống mức thấp nhất gần một tháng do giá dầu đi xuống, dù thời tiết bất lợi tại các vùng sản xuất chính giúp hạn chế đà giảm.
Giá dầu thô tiếp đà giảm trong phiên sáng ngày thứ Ba (27/10), khi xuất hiện hy vọng căng thẳng tại Trung Đông sẽ hạ nhiệt.
Giá cà phê arabica giảm hơn 3% trong phiên 26/10 khi đồng real Brazil mất giá mạnh so với USD, giá đường trắng cũng đi xuống.
Giá cà phê hôm nay tiếp tục giảm do đồng real của Brazil, quốc gia sản xuất hàng đầu thế giới, lao dốc khoảng 9% sau chiến thắng bất ngờ của Tổng thống Luiz Inácio Lula da Silva trong cuộc bầu cử vừa diễn ra.