Kết thúc phiên giao dịch ngày 5/2, giá thép thanh kỳ hạn tháng 4 trên Sở Giao dịch Thượng Hải (SHFE) giảm 1,2% (41 CNY/tấn) về mức 3.277 CNY/tấn sau khi thị trường hàng hóa Trung Quốc mở cửa trở lại từ kỳ nghỉ Tết Nguyên đán. Đây cũng là mức giá thấp nhất trong ba tuần qua, một phần lo ngại về triển vọng không chắc chắn của ngành này.
Giá thép thanh kỳ hạn tháng 4 trên Sàn SHFE. Nguồn: Barchart
Theo Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc (NBS), dữ liệu tháng 1 của Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) trong lĩnh vực sản xuất ghi nhận mức thấp 49,1 so với 50,1 của tháng 12/2024. Bên cạnh đó, những lo ngại về cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc cũng gây thêm áp lực cho triển vọng xuất khẩu thép của quốc gia này. Tháng 12/2024, Trung Quốc đã xuất khẩu kỷ lục 9,7 triệu tấn thép, tăng 26% so với cùng kỳ năm 2023.
Theo ước tính của NBS, trong tuần từ ngày 27/1-2/2, lượng quặng sắt tới khoảng 7 cảng lớn ở Trung Quốc (Qingdao, Rizhao, Caofeidian, Tianjin, Jingtang, Lianyungang, Beilun) ghi nhận hơn 8,73 triệu tấn, giảm 5,6 triệu tấn so với tuần trước đó.
Đồng thời, lượng quặng sắt từ Australia tới Trung Quốc ghi nhận hơn 20 triệu tấn, tăng 8,1 triệu tấn so với tuần trước đó; còn lượng quặng từ Brazil tăng nhẹ 0,65 triệu tấn lên khoảng 6,6 triệu tấn.
Mới đây, theo báo cáo sản xuất kinh doanh năm 2024 của Tập đoàn Vale SA (Brazil), trong quý IV, sản lượng quặng sắt ghi nhận 85,28 triệu tấn, thấp hơn 6,3% so với quý III và 4,6% so với cùng kỳ năm 2023. Lũy kế cả năm, công ty sản xuất được tổng cộng 327,6 triệu tấn quặng sắt, cao hơn 2% so với năm 2023, ghi nhận mốc sản lượng cao nhất kể từ năm 2018.
Tại Ấn Độ, theo thống kê của Bộ Tài nguyên Mỏ, sản lượng quặng sắt từ tháng 4-12/2024 của quốc gia này đạt 208 triệu tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ 2023. Ấn Độ là nhà sản xuất quặng sắt lớn thứ tư trên thế giới, xếp thứ hai về kim loại nhôm và top 10 về đồng tinh chế. Sự gia tăng sản xuất các kim loại này phản ánh nhu cầu từ các lĩnh vực như thép, năng lượng, cơ sở hạ tầng, xây dựng, ô tô và máy móc vẫn đang phát triển.
Trong nước, giá thép thanh của các doanh nghiệp lớn vẫn ghi nhận bình ổn. Cụ thể, giá thép CB240 giao dịch khoảng 13.640-13.800đ/kg, trong khi thép D10 CB300 có giá khoảng 13.700-13.840đ/kg.
Giá thép ghi nhận tới ngày 6/2/2025. Nguồn: SteelOnline
Lai ChâuNguyễn Xuân Trường bơm nhầm hơn 500 lít xăng RON95 vào bể chứa dầu DO nhưng không xử lý mà pha loãng để bán ra thị trường 12.500 lít dầu không bảo đảm chất lượng.
Giá lúa gạo hôm nay (19/5) tại thị trường trong nước tăng mạnh 300 – 400 đồng/kg đối với lúa tươi. Trong khi đó, giới phân tích dự báo giá gạo trên thị trường toàn cầu có khả năng sẽ tăng do cán cân cung – cầu chuyển sang trạng thái thâm hụt, cùng với những lo ngại về thời tiết và nguồn cung phân bón.
Bộ Công Thương yêu cầu các cửa hàng bán lẻ xăng dầu thực hiện nghiêm túc việc chuyển đổi sang xăng sinh học E10 kể từ ngày 1/6/2026, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng trì hoãn hoặc gián đoạn nguồn cung.
Giá vàng hôm nay 19/5 tại thị trường trong nước ghi nhận diễn biến phân hóa giữa các phân khúc. Trong đó, vàng miếng SJC tăng mạnh ở chiều mua tại một số doanh nghiệp lớn, trong khi vàng nhẫn tròn trơn và vàng nữ trang 24K, 18K nhìn chung ít biến động so với phiên trước.