Ghi nhận trong sáng nay, giá tiêu trong nước vẫn duy trì ổn định trong khoảng 147.500 – 148.500 đồng/kg.
Cụ thể, Đắk Lắk và Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) tiếp tục được thu mua ở mức cao nhất là 148.500 đồng/kg. Tiếp đến là giá tiêu tại Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) và Gia Lai, phổ biến ở mức 148.000 đồng/kg. Trong khi đó, Đồng Nai được được thu ở mức thấp nhất với 147.500 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 21/1 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
148.500 |
- |
|
Gia Lai |
148.000 |
- |
|
Đắk Nông |
148.500 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
148.000 |
- |
|
Bình Phước |
147.500 |
- |
|
Đồng Nai |
147.500 |
- |
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen của Indonesia quay đầu giảm 0,27% (18 USD/tấn) so với ngày hôm trước, xuống còn 6.591 USD/tấn,
Giá tiêu đen Brazil ASTA 570 cũng giảm 1,67% (100 USD/tấn), về mốc 6.000 USD/tấn.
Tại Malaysia, giá tiêu đen vẫn duy trì ổn định ở mức 9.000 USD/tấn. Tương tự, tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu tiếp tục dao động trong khoảng 6.400 – 6.600 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 21/1 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.591 |
-0,27 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
6.000 |
-1,67 |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.000 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.400 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.600 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok Indonesia giảm 0,26% (24 USD/tấn) so với ngày hôm trước, xuống còn 9.064 USD/tấn.
Trong khi đó, giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam và Malaysia lần lượt đứng ở mức 9.150 USD/tấn và 12.000 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 21/1 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.064 |
-0,26 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.000 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.150 |
- |
Theo thống kê sơ bộ của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong 15 ngày đầu tháng 1/2026, Việt Nam xuất khẩu được 9.050 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 57,9 triệu USD, trong đó tiêu đen đạt 7.228 tấn, tiêu trắng đạt 1.822 tấn.
So với 15 ngày đầu tháng 12/2025 khối lượng xuất khẩu giảm 3,7% và kim ngạch giảm 6,3%. Tuy nhiên, so với cùng kỳ tháng 1/2025 lại tăng 41,8% về lượng và 36,4% về trị giá.
Nedspice Việt Nam, Phúc Sinh và Simexco Đăk Lăk là 3 doanh nghiệp xuất khẩu lớn nhất lần lượt đạt 1.028 tấn, 856 tấn và 689 tấn.
Trong khi đó, các thị trường xuất khẩu hàng đầu bao gồm: Mỹ đạt 2.209 tấn, chiếm 24,4% thị phần. Tiếp theo là Trung Quốc đạt 1.608 tấn, chiếm 17,8% thị phần và U.A.E đạt 756 tấn chiếm 8,4% thị phần xuất khẩu của hồ tiêu Việt Nam.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam đã nhập khẩu 2.499 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt 14,4 triệu USD, so với nửa đầu tháng 12/2025 lượng nhập khẩu tăng 70,6% và kim ngạch tăng 58,2%.
Olam và Gia vị Việt Nam là 2 doanh nghiệp nhập khẩu lớn nhất đạt 439 tấn và 224 tấn, trong khi đó Campuchia, Brazil và Indonesia là 3 quốc gia cung cấp hồ tiêu lớn nhất cho Việt Nam chiếm 42,9%; 32,1% và 17,7%.
Trong khi đó, theo IPC, thị trường tuần thứ 3 của tháng 1/2026 ghi nhận biến động giá khác nhau giữa các quốc gia sản xuất. Trong khi đó, giá thị trường Mỹ nhìn chung vẫn ổn định kể từ đầu năm 2026. Không có áp lực bán đáng kể nào từ các nước sản xuất; tuy nhiên, hoạt động thị trường cho thấy các nhà bán lẻ đang chào bán với mức giá tương đối thấp hơn.
Tại Ấn Độ, giá tiêu nội địa và xuất khẩu duy trì ổn định, cho thấy tâm lý thị trường cân bằng và ổn định.
Tại Indonesia, giá tiêu đen ghi nhận giảm nhẹ, giá tiêu trắng duy trì ổn định trong suốt tuần, hỗ trợ bởi tỷ giá hối đoái tương đối ổn định.
Thị trường nội địa và xuất khẩu của Malaysia không ghi nhận chuyển biến lớn nào trong tuần thứ 3 của tháng này.
Giá tiêu nội địa Sri Lanka hầu như không thay đổi trong 2 tuần liên tiếp.
Tại Việt Nam, giá tiêu nội địa giảm nhẹ trong tuần qua, giá xuất khẩu nhìn chung ổn định.
Trong tuần trước, giá tiêu đen Brazil giảm, trong khi giá tiêu đen Campuchia và tiêu trắng Trung Quốc duy trì ổn định.
Về mặt thương mại, Nhật Bản nhập khẩu 8.518 tấn hồ tiêu từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2025. Việt Nam là nước cung ứng lớn nhất, đạt 3.236 tấn, tiếp đến là Indonesia, Malaysia, Ấn Độ và Trung Quốc cũng là các quốc gia cung ứng chính.
Giá cao su kỳ hạn tại Nhật Bản giảm phiên thứ 4 liên tiếp do dự báo thời tiết thuận lợi tại các quốc gia sản xuất như Thái Lan và Indonesia làm tăng dự báo về nguồn cung.
Giá thép thanh và quặng sắt kỳ hạn Trung Quốc giảm do lo ngại nhu cầu sụt giảm sau vụ tai nạn tại nhà máy thép lớn ở Trung Quốc. Trong khi đó, giá thép xây dựng tại Việt Nam tiếp tục đi lên ở một số doanh nghiệp.
Giá dầu thô điều chỉnh trong phiên sáng ngày thứ Tư (21/1), sau khi tăng trở lại vào hôm trức nhờ việc tạm ngừng sản xuất tại các mỏ dầu ở Kazakhstan và kỳ vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ nhiên liệu.
Giá vàng thế giới tiếp tục tăng trong phiên sáng ngày thứ Tư (21/1) sau khi bứt phá mạnh vào hôm trước và vượt qua ngưỡng 4.700 USD/ounce, trong bối cảnh nhu cầu trú ẩn an toàn gia tăng trước diễn biến căng thẳng địa chính trị.