Ghi nhận trong sáng nay, giá tiêu tại các địa phương sản xuất trọng điểm duy trì ổn định trong khoảng 137.000 - 139.000 đồng/kg.
Cụ thể, Đắk Lắk và Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) vẫn là hai địa phương có mức giá thu mua cao nhất, đạt 139.000 đồng/kg.
Tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) và Đồng Nai, giá hồ tiêu được giao dịch ở mức 137.500 đồng/kg.
Trong khi đó, Gia Lai tiếp tục ghi nhận mức giá thấp nhất trong các vùng khảo sát, với 137.000 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 25/6 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
139.000 |
- |
|
Gia Lai |
137.000 |
- |
|
Đắk Nông |
139.000 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
137.500 |
- |
|
Bình Phước |
137.500 |
- |
|
Đồng Nai |
137.500 |
- |
Theo số liệu mới nhất từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia tiếp tục xu hướng giảm trong phiên giao dịch gần đây, mất 34 USD/tấn, tương đương 0,48% so với ngày trước đó, xuống còn 7.158 USD/tấn.
Trong khi đó, thị trường tại các quốc gia sản xuất chủ chốt khác nhìn chung ổn định. Giá tiêu đen Brazil loại ASTA 570 hiện được chào ở mức 5.900 USD/tấn, còn tiêu đen Malaysia giữ vững tại 9.350 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu cũng giữ nguyên ở mức 6.100 - 6.200 USD/tấn đối với các chủng loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 25/6 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
7.124 |
-0,48 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
5.900 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.350 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.100 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.200 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia được chào bán ở mức 9.256 USD/tấn, giảm 0,49% (45 USD/tấn) so với ngày hôm trước.
Tại Malaysia và Việt Nam, giá tiêu trắng xuất khẩu lần lượt được chào bán ở mức 12.250 USD/tấn và 9.000 USD/tấn, không thay đổi so với ngày hôm trước.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 25/6 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.256 |
-0,49 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.250 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.000 |
- |
Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, theo số liệu thống kê của Cục Hải quan, tháng 5/2026, Việt Nam xuất khẩu 25,11 nghìn tấn hạt tiêu, với trị giá 166,9 triệu USD, giảm 18,9% về lượng và giảm 13,9% về trị giá so với tháng 4/2026, giảm 4,5% về lượng và giảm 8,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá bình quân xuất khẩu đạt 6.647 USD/tấn, tăng 6,1% so với tháng trước và tăng 4% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy giá tiêu thế giới vẫn duy trì ở mức cao.
Về thị trường, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu hạt tiêu lớn nhất của Việt Nam trong tháng 5/2026, đạt 5,81 nghìn tấn, trị giá 42,7 triệu USD, chiếm khoảng 23% tổng lượng xuất khẩu trong tháng. Tuy nhiên, xuất khẩu sang thị trường này giảm mạnh 17,9% về lượng và giảm 13,5% về trị giá so với tháng trước, đồng thời giảm 16,2% về lượng và giảm 18,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
EU là khu vực thị trường xuất khẩu hạt tiêu lớn thứ hai của Việt Nam, với lượng xuất khẩu đạt 4,38 nghìn tấn, trị giá 31,46 triệu USD, tăng 11,1% về lượng và tăng 11,3% về trị giá so với tháng trước, đồng thời tăng 9,0% về lượng so với cùng kỳ năm trước.
Đáng chú ý, xuất khẩu hạt tiêu tới nhiều thị trường tại châu Á ghi nhận mức tăng trưởng rất cao: Xuất khẩu sang Thái Lan đạt 1.005 tấn, tăng 101,8% so với cùng kỳ năm trước; Thổ Nhĩ Kì đạt 1.316 tấn, tăng 159,6%; Australia tăng 277,1%; Gioóc-đa-ni tăng 264,7%; Israel tăng 586%; UAE tăng đột biến gần 11 lần về lượng so với tháng trước.
Ở chiều ngược lại, xuất khẩu tới một số thị trường lớn giảm mạnh như: Ấn Độ giảm 44,0% về lượng so với tháng trước; Trung Quốc giảm 39,0%; Ai Cập giảm 24,1%; Anh giảm 34,1%; Hàn Quốc giảm 28,0% và Pakistan giảm 34%...
Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 121,91 nghìn tấn hạt tiêu, đạt kim ngạch 789,74 triệu USD, tăng 22% về lượng và tăng 14,4% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025. Giá bình quân xuất khẩu ở mức 6.478 USD/tấn, giảm 6,2% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu hạt tiêu lớn nhất trong 5 tháng, đạt 30,57 nghìn tấn, trị giá 220,34 triệu USD, tăng 23,8% về lượng và tăng 19,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Xuất khẩu hạt tiêu tới EU đứng thứ hai với 18,95 nghìn tấn, trị giá 137,57 triệu USD, tăng nhẹ 0,7% về lượng và tăng 0,6% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Ngoài Mỹ và EU, xuất khẩu hạt tiêu tới Trung Quốc đáng chú ý nhất khi đạt 13,64 nghìn tấn, trị giá 62,26 triệu USD, tăng 171,2% về lượng và tăng 185,7% về trị giá.
Xuất khẩu tới Thái Lan cũng tăng mạnh 124,2% về lượng và 95,1% về trị giá; Ai Cập tăng 61,3% về lượng và 50,9% về trị giá; Thổ Nhĩ Kì tăng 83,1% về lượng và 70,8% về trị giá; Canada tăng 34,3% về lượng và 17,4% về trị giá…
Ngược lại, xuất khẩu sang một số thị trường lớn giảm đáng kể trong 5 tháng đầu năm 2026 như: Ấn Độ giảm 37,9% về lượng và giảm 41,7% về trị giá; Hàn Quốc giảm 33,5% về lượng và giảm 35,3% về trị giá; Anh giảm 18,8% về lượng và giảm 19,4% về trị giá; UAE giảm 43,4% về lượng và giảm 49,7% về trị giá...
Giá cao su kỳ hạn tại Nhật Bản biến động trong biên độ hẹp khi triển vọng tiêu thụ từ ngành ô tô châu Âu hỗ trợ thị trường, trong khi đà giảm của giá dầu thô tiếp tục hạn chế mức tăng.
Giá vàng, bạc và bitcoin đồng loạt giảm mạnh trong những ngày gần đây khi đồng USD tăng giá và kỳ vọng Fed tiếp tục nâng lãi suất gia tăng.
Giá quặng sắt bật tăng trở lại sau khi rơi xuống mức thấp nhất nhiều tháng ở phiên trước, nhờ hoạt động mua bắt đáy và đóng vị thế bán của giới đầu tư, trong bối cảnh nhu cầu ngắn hạn tại Trung Quốc vẫn duy trì khả quan.
Giá dầu thô Brent phục hồi nhẹ trong phiên sáng ngày thứ Năm (25/6) sau khi giảm xuống mức thấp nhất kể từ trước khi xung đột Iran bùng phát vào hôm trước, vì những lo ngại về nguồn cung hạ nhiệt nhờ ngày càng nhiều tàu chở dầu mắc kẹt rời khỏi eo biển Hormuz.