Theo khảo sát, giá tiêu sáng nay tại các địa phương sản xuất trọng điểm giữ ổn định ở mức 137.000 – 139.000 đồng/kg.
Cụ thể, giá tiêu tại Đắk Lắk và Đắk Nông (Lâm Đồng) cùng được thu mua ở mức 139.000 đồng/kg. Tiếp đến, Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) ghi nhận mức giá 137.500 đồng/kg, trong khi Gia Lai và Đồng Nai cùng đạt 137.000 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 27/3 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
139.000 |
- |
|
Gia Lai |
137.000 |
- |
|
Đắk Nông |
139.000 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
137.500 |
- |
|
Bình Phước |
137.000 |
- |
|
Đồng Nai |
137.000 |
- |
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, giá tiêu tại các quốc gia sản xuất hàng đầu không ghi nhận biến động mới. Hiện giá tiêu đen của Indonesia được giao dịch ở mức 6.994 USD/tấn, tiêu đen Brazil ASTA 570 có giá 6.050 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu dao động trong khoảng 6.300 – 6.400 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 27/3 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.994 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
6.050 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.300 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.300 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.400 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia vẫn duy trì ổn định ở mức 9.260 USD/tấn. Còn tại Malaysia và Việt Nam, giá tiêu trắng lần lượt được chào bán ở mức 12.200 USD/tấn và 9.050 USD/tấn, không đổi so với ngày hôm trước.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 27/3 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.260 |
- |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.200 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.050 |
- |
Theo số liệu từ Bộ Thương mại Ấn Độ, trong tháng 1, nhập khẩu hồ tiêu của nước này đạt 2.119 tấn, giảm 39,4% so với cùng kỳ năm trước.
Sri Lanka tiếp tục là nguồn cung lớn nhất với 937 tấn, chiếm 44,2% thị phần, tuy nhiên giảm 43,1% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, lượng nhập khẩu từ Indonesia và Brazil cũng sụt giảm mạnh, lần lượt 58,2% và 76,3%. Tuy nhiên, nhập khẩu hồ tiêu từ Việt Nam, nguồn cung lớn thứ hai, lại tăng đáng kể 27,4%, đạt 626 tấn, chiếm gần 30% thị phần.
Ở chiều ngược lại, Ấn Độ cũng đã xuất khẩu 1.629 tấn hồ tiêu ra thị trường thế giới, giảm 12,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Các thị trường xuất khẩu chính gồm Mỹ đạt 562 tấn, giảm 39,6%; Anh đạt 111 tấn, tăng 125,4%; Nga đạt 109 tấn, giảm 16,5%.
Thị trường tiêu đen nội địa Ấn Độ hiện khá trầm lắng, chủ yếu do căng thẳng địa chính trị đang làm suy yếu nhu cầu xuất khẩu và kìm hãm hoạt động thương mại. Tính đến ngày 20/3, tiêu đen loại 500 g/l có giá 6.760 USD/tấn FOB Ấn Độ, thấp hơn 10 USD/tấn so với tuần trước đó.
Tại các trung tâm giao dịch quan trọng như Kochi, nguồn cung vụ mới vẫn hạn chế khi nông dân chủ yếu bán nhỏ giọt và chờ giá tốt hơn.
Vụ thu hoạch tại Kerala đã bắt đầu khoảng hai tháng trước, nhưng lượng hàng có mặt trên thị trường vẫn còn hạn chế. Sản lượng trong niên vụ này cũng được dự báo giảm đáng kể, với bang Kerala có thể giảm khoảng 20–25%, trong khi tại Karnataka – một vùng trồng quan trọng khác – sản lượng dự kiến chỉ đạt khoảng một nửa so với mức thông thường. Điều kiện thời tiết bất lợi trước đó càng làm tình hình thêm trầm trọng.
Giá sầu riêng hôm nay (27/3) tiếp tục đi ngang tại các vùng thu mua trọng điểm. Kinh tế suy yếu khiến người dân thắt chặt chi tiêu, làm giảm sức tiêu thụ đối với sầu riêng quả nhỏ so với các năm trước.
Giá cao su Nhật Bản tiếp tục tăng do đồng yên yếu, giá dầu thô neo vững và giá cao su vật chất tại Thái Lan đi lên.
Giá thép giảm trong khi quặng sắt tăng do lo ngại gián đoạn nguồn cung từ Australia, tuy nhiên, hạn chế sản xuất tại Trung Quốc khiến đà tăng bị kìm lại.
Ông lớn vận tải đến từ Đan Mạch Maersk vừa phát đi cảnh báo về nguy cơ gián đoạn kéo dài tại eo biển Hormuz, khi chi phí vận chuyển tăng vọt và các chuỗi cung ứng toàn cầu đang chịu tác động lan rộng.