Theo ghi nhận, giá tiêu sáng nay tại các vùng sản xuất trọng điểm vẫn dao động trong khoảng 138.000–142.000 đồng/kg.
Cụ thể, Đắk Lắk có giá thu mua cao nhất ở mức 142.000 đồng/kg. Theo sau là Đắk Nông (Lâm Đồng) với 141.000 đồng/kg, trong khi Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) và Đồng Nai cùng ghi nhận mức 140.000 đồng/kg. Riêng tại Gia Lai giá đạt 138.000 đồng/kg, thấp nhất trên thị trường.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 28/4 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
142.000 |
- |
|
Gia Lai |
138.000 |
- |
|
Đắk Nông |
141.000 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
140.000 |
- |
|
Bình Phước |
140.000 |
- |
|
Đồng Nai |
140.000 |
- |
Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu thế giới nhìn chung vẫn ổn định trong phiên giao dịch gần nhấ.
Hiện giá tiêu đen Indonesia đang được niêm yết ở mức 7.007 USD/tấn, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 có giá 6.000 USD/tấn và tiêu đen Malaysia duy trì ở mức 9.300 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu tiếp tục dao động trong khoảng 6.100–6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 28/4 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
7.007 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
6.000 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.300 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.100 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.200 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, tiêu trắng Muntok của Indonesia đạt 9.231 USD/tấn. Tại Việt Nam và Malaysia, giá tiêu trắng lần lượt duy trì ở mức 9.000 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 28/4 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.231 |
- |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.200 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.000 |
- |
Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) dẫn số liệu từ Cục Hải quan, cho biết, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong tháng 3/2026 đạt 30,55 nghìn tấn, trị giá 199,56 triệu USD, tăng 119,7% về lượng và tăng 117,1 về trị giá so với tháng 02/2026, tăng 52,7% về lượng và tăng 42,4% về trị giá so với tháng 3/2025.
Lũy kế 3 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam đạt 61,13 nghìn tấn, trị giá 430,8 triệu USD, tăng 40,1% về lượng và tăng 32,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Giá bình quân xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong tháng 3/2026 đạt 6.531 USD/tấn, giảm 1,2% so với tháng 2 và giảm 6,7% so với tháng 3/2025. Tính chung 3 tháng đầu năm 2025, giá bình quân xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam đạt 6.514 USD/tấn, giảm 5,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong tháng 3 tăng so với cùng kỳ năm ngoái tới nhiều thị trường như Mỹ, Thái Lan, Hà Lan, Philippines, Ai Cập, Pakistan… Tuy vậy, xuất khẩu hạt tiêu sang một số thị trường vẫn giảm như Ấn Độ, Anh, Hàn Quốc.
Tính chung 3 tháng đầu năm 2026, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu hạt tiêu lớn nhất của Việt Nam, chiếm 26,75% tổng lượng xuất khẩu, tăng so với tỷ trọng 23,28% của 3 tháng đầu năm 2025. Khối lượng hồ tiêu xuất khẩu sang thị trường này đạt 17.693 tấn, trị giá 128,3 triệu USD, tăng mạnh 60,9% về lượng và 54,2% về trị giá.
Xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam sang các thị trường tăng trưởng không đồng đều trong 3 tháng đầu năm 2026. Trong đó, xuất khẩu sang một số thị trường tăng đáng kể như: Mỹ, Thái Lan, Hà Lan, Philippines, Ai Cập… Trái lại, xuất khẩu sang một số thị trường giảm như: Đức, Ấn Độ, Anh, Hàn Quốc.
Đây là đợt tăng giá phân bón nghiêm trọng thứ hai trong vòng bốn năm qua, sau xung đột giữa Nga – Ukraine.
Giá thép và quặng sắt khá ổn định khi nhu cầu tích trữ trước kỳ nghỉ tại Trung Quốc và tồn kho giảm bù đắp cho nguồn cung tăng và biên lợi nhuận thép suy yếu.
Giá cao su kéo dài đà tăng khi giá dầu thô tăng mạnh do căng thẳng địa chính trị, dù tồn kho và một số hợp đồng tại Trung Quốc biến động trái chiều.
Giá vàng thế giới phục hồi nhẹ trong phiên sáng ngày thứ Ba (28/4) sau khi giảm vào hôm trước vì thiếu tiến triển ngoại giao nhằm chấm dứt xung đột Mỹ - Israel với Iran khiến giá dầu và lo ngại lạm phát duy trì ở mức cao.