Khảo sát trong sáng nay, giá tiêu tại một số địa phương sản xuất trọng điểm giảm 1.000 đồng/kg so với ngày hôm qua, dao động trong khoảng 149.000 – 151.000 đồng/kg.
Cụ thể, sau khi điều chỉnh giảm 1.000 đồng/kg, giá tiêu tại Đắk Lắk được đưa về mốc 151.000 đồng/kg.
Tương tự, giá tiêu tại Bà Rịa – Vũng Tàu (TP. HCM) và Đồng Nai cũng giảm 1.000 đồng/kg, xuống còn 149.000 đồng/kg,
Trong khi đó, giá tiêu tại Đắk Nông (Lâm Đồng) giữ ổn định ở mức 151.000 đồng/kg; Gia Lai không thay đổi, duy trì ở mức 149.000 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 4/2 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
151.000 |
-1.000 |
|
Gia Lai |
149.000 |
- |
|
Đắk Nông |
151.000 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
149.000 |
-1.000 |
|
Bình Phước |
149.000 |
-1.000 |
|
Đồng Nai |
149.000 |
-1.000 |
Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen của Indonesia tiếp tục được được báo giá ở mức 6.732 USD/tấn trong phiên giao dịch gần nhất; tiêu đen Brazil ASTA 570 đạt 6.150 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia đứng ở mức 9.000 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu tiếp tục dao động trong khoảng 6.400 – 6.600 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 4/2 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.732 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
6.150 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.000 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.400 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.600 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok Indonesia vẫn duy trì ở mốc 9.263 USD/tấn. Tại Việt Nam và Malaysia, giá tiêu trắng lần lượt được giao dịch ở mức 9.150 USD/tấn và 12.000 USD/tấn, không đổi so với ngày hôm trước.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 4/2 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.263 |
- |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.000 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.150 |
- |
IPC cho biết, diễn biến thị trường hồ tiêu thế giới trong tuần cuối của tháng 1 cho thấy sự không đồng đều giữa các quốc gia sản xuất chỉnh, chịu tác động bởi các yếu tố cung – cầu của thị trường nội địa và biến động tỷ giá hối đoái.
Giá tiêu giao dịch trong nước và xuất khẩu của Ấn Độ tiếp tục giảm trong 2 tuần liên tiếp. Sự điều chỉnh này một phần do tác động của việc đồng Rupee Ấn độ giảm 1% do với USD (91.72 INR/USD).
Indonesia ghi nhận giá ổn định ở cả thị trường nội địa và xuất khẩu trong tuần qua. Tâm lý giá được hỗ trợ một phần bởi việc đồng Rupiah Indonesia tăng gần 1% so với USD (16.777 IDR/USD).
Tại Malaysia, giá tiêu nội địa ghi nhận sự cải thiện vào cuối tháng, trong khi các loại khác nhìn chung ít biến động.
Giá tiêu nội địa Sri Lanka giảm nhẹ trong tuần trước, cho thấy điều kiện thị trường suy yếu hơn và thời điểm cuối tháng.
Giá tiêu nội địa Việt Nam ghi nhận tăng trong tuần qua. Trong khi giá xuất khẩu ổn định trong 2 tuần liên tiếp.
Giá tiêu đen Brazil ghi nhận tăng trong tuần qua. Giá tiêu đen Campuchia và tiêu trắng Trung Quốc không có biến động đáng kể.
Về mặt thương mại, Pháp nhập khẩu 11.452 tấn Hồ tiêu từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2025. Việt Nam là nước cung ứng lớn nhất, đạt 5.294 tấn, tiếp đến là Indonesia, Brazil, Đức và Bỉ cũng là các quốc gia cung ứng chính.
Giá cao su kỳ hạn Nhật Bản đi xuống do chịu áp lực từ nhu cầu nội địa suy yếu, trong khi đà hồi phục của thị trường hàng hoá nói chung đã hỗ trợ giá cao su của Trung Quốc và Singapore hạn chế mức giảm.
Biến động trên thị trường vàng và bạc sẽ tiếp tục ở mức cao sau khi các kim loại quý này lao dốc từ những đỉnh lịch sử, Bloomberg dẫn nhận định tập đoàn tài chính Bank of America (BofA).
Giá thép và quặng sắt kỳ hạn đều tiếp tục đi xuống khi nhu cầu thép Trung Quốc trước Tết năm nay suy yếu, trong khi nguồn cung toàn cầu gia tăng.
Giá dầu thô điều chỉnh nhẹ trong phiên sáng ngày thứ Tư (4/2) sau khi tăng khoảng 2% vào hôm trước vì căng thẳng Mỹ - Iran leo thang trở lại.