Khảo sát cho thấy, giá tiêu tại các địa phương sản xuất trọng điểm dao động trong khoảng 138.000 – 139.000 đồng/kg, không đổi so với ngày hôm trước.
Theo đó, giá tiêu tại Đắk Lắk và Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) cùng được thu mua ở mức 139.000 đồng/kg. Tiếp đến là Bà Rịa – Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) đứng ở mức 138.500 đồng/kg, còn Gia Lai và Đồng Nai phổ biến quanh mức 138.000 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 6/4 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
139.000 |
- |
|
Gia Lai |
138.000 |
- |
|
Đắk Nông |
139.000 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
138.500 |
- |
|
Bình Phước |
138.000 |
- |
|
Đồng Nai |
138.000 |
- |
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen của Indonesia đứng ở mức 7.115 USD/tấn, tiêu đen Brazil ASTA 570 có giá 6.150 USD/tấn và tiêu đen Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu dao động trong khoảng 6.000 – 6.100 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 6/4 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
7.115 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
6.150 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.300 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.000 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.100 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia đạt 9.374 USD/tấn. Trong khi đó, giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam và Malaysia lần lượt đứng ở mức 8.900 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 6/4 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.374 |
- |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.200 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
8.900 |
- |
Theo thống kê bộ của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong tháng 3/2026, Việt Nam xuất khẩu được 30.638 tấn hồ tiêu các loại, tiêu đen đạt 26.190tấn, tiêu trắng đạt 4.448 tấn. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 199,3 triệu USD, tiêu đen đạt 167,3 triệu USD, tiêu trắng đạt 32,0 triệu USD, so với tháng 2 lượng xuất khẩu tăng 119,3% và so với cùng kỳ tháng 3/2025 lượng xuất khẩu tăng 51,3%.
Giá xuất khẩu bình quân tiêu đen trong tháng 3 đạt 6.520 USD/tấn, tiêu trắng đạt 8.735 USD/tấn, giảm 0,7% đối với tiêu đen và tăng 1,0% đối với tiêu trắng so với tháng trước.
Mỹ và Trung Quốc là 2 thị trường xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất của Việt Nam lần lượt đạt 8.059 tấn và 3.663 tấn, trong đó xuất khẩu sang Mỹ tăng 121,0% và Trung Quốc tăng 134,7%.
Ngoài ra còn ghi nhận một số thị trường khác cũng tăng trưởng đột biến như: Ai Cập tăng 294,5%; Hà Lan tăng 206,6%; Canada tăng 205,8%; Philippines tăng 83,6%...
Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng đầu trong tháng 3 bao gồm: Olam Việt Nam: 3.041 tấn, Phúc Sinh: 2.928 tấn, Trân Châu: 1.852 tấn, Haprosimex JSC: 1.794 tấn và Nedspice Việt Nam: 1.727 tấn.
Tính chung 3 tháng đầu năm, Việt Nam đã xuất khẩu được 66.350 tấn hồ tiêu các loại, trong đó tiêu đen đạt 55.322 tấn và tiêu trắng đạt 11.018 tấn với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 430 triệu USD. So với cùng kỳ 3 tháng đầu năm 2025, lượng xuất khẩu tăng mạnh 39,2% và kim ngạch tăng 31,7% cho thấy đà phục hồi rõ nét của hoạt động xuất khẩu ngay từ đầu năm.
Các doanh nghiệp xuất khẩu lớn tiếp tục duy trì vai trò dẫn dắt thị trường, trong đó Phúc Sinh vươn lên đứng đầu với 5.546 tấn, tăng 39,6%; tiếp theo là Olam Việt Nam đạt 5.165 tấn, tăng 1,1%; Nedspice Việt Nam đạt 4.811 tấn, giảm nhẹ 2,3%; Haprosimex JSC đạt 4.534 tấn, tăng mạnh 82,8% và Simexco Đắk Lắk đạt 4.145 tấn, tăng 69,5%. Nhìn chung, nhóm doanh nghiệp lớn ghi nhận mức tăng trưởng tích cực, đặc biệt ở các doanh nghiệp thương mại và chế biến sâu.
Về thị trường xuất khẩu, Mỹ tiếp tục là thị trường lớn nhất trong 3 tháng đầu năm với khối lượng đạt 16.859 tấn, tăng 63,9% so với cùng kỳ và chiếm 25,4% thị phần. Trung Quốc vươn lên mạnh mẽ đạt 8.563 tấn, tăng tới 321,0%, trở thành thị trường lớn thứ hai. Tiếp theo là UAE đạt 3.182 tấn, tăng 15,4%; Ấn Độ đạt 2.456 tấn, giảm 27,1% và Philippines đạt 2.383 tấn, tăng 46,9%.
Khu vực châu Á tiếp tục là động lực tăng trưởng chính, chiếm 46% tổng lượng xuất khẩu, trong khi châu Mỹ chiếm 28% và châu Âu chiếm 20%.
Vàng luôn được sách giáo khoa tài chính mô tả là hầm trú ẩn an toàn tuyệt đối. Thế nhưng, khi xung đột Iran bùng nổ và lạm phát đình đốn (stagflation) manh nha vào tháng 3/2026, vàng và bạc lại cắm đầu. Lý do là gì và triển vọng dài hạn ra sao?
Hôm Chủ nhật, nhóm OPEC+ đã nhất trí tăng hạn ngạch sản lượng dầu thêm 206.000 thùng/ngày trong tháng 5, mức tăng khiêm tốn và mang tính lý thuyết vì các thành viên chủ chốt không thể tăng sản lượng do xung đột giữa Mỹ và Israel với Iran, theo Reuters.
Giá cao su tại các khu vực chính mở cửa phiên giao dịch đầu tuần với diễn biến khởi sắc, tuy nhiên xu hướng tăng còn nhiều phụ thuộc vào bất ổn giá dầu hiện nay.
Căng thẳng tại Iran đã khiến một nhà máy nhôm quan trọng bị hư hại, giá nhôm lập tức dậy song.