|
Giá vàng |
03/01/2026 |
Thay đổi (nghìn đồng/lượng) |
|||
|
Mua vào (triệu đồng/lượng) |
Bán ra (triệu đồng/lượng) |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Vàng miếng |
SJC chi nhánh TP HCM |
150,80 |
152,80 |
- |
- |
|
Tập đoàn Doji |
150,80 |
152,80 |
- |
- |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
150,80 |
152,80 |
- |
- |
|
|
PNJ chi nhánh Hà Nội |
150,80 |
152,80 |
- |
- |
|
|
Vàng nữ trang |
99,99% (vàng 24K) |
143,90 |
147,40 |
- |
- |
|
75% (vàng 18K) |
102,21 |
110,71 |
- |
- |
|
|
58,3% (vàng 14K) |
77,59 |
86,09 |
- |
- |
|
Vàng miếng SJC tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 8h45 (Tổng hợp: Du Y)
Bước vào phiên giao dịch ngày 3/1, thị trường vàng trong nước khá trầm lắng khi giá vàng miếng SJC tại hầu hết doanh nghiệp lớn tiếp tục đứng yên so với thời điểm chốt phiên cuối cùng của năm 2025.
Theo ghi nhận, Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC), Tập đoàn Doji và hệ thống PNJ đồng loạt giữ nguyên giá niêm yết ở cả hai chiều mua vào – bán ra. Mặt bằng giá vàng miếng SJC phổ biến quanh 150,8 – 152,8 triệu đồng/lượng, với biên độ chênh lệch mua – bán duy trì khoảng 2 triệu đồng/lượng.
Không chỉ vàng miếng, phân khúc vàng nữ trang và vàng nhẫn cũng không xuất hiện biến động mới. Giá vàng 24K, 18K, 14K tại các doanh nghiệp lớn được giữ nguyên so với phiên trước, phản ánh tâm lý thận trọng của thị trường trong giai đoạn đầu năm.
Biểu đồ giá vàng trong nước 7 ngày gần đây. (Nguồn: SJC)
|
Giá vàng nhẫn tròn trơn |
03/01/2026 |
Thay đổi (nghìn đồng/lượng) |
|||
|
Mua vào (triệu đồng/lượng) |
Bán ra (triệu đồng/lượng) |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Vàng nhẫn |
SJC |
145,90 |
148,90 |
- |
- |
|
Tập đoàn Doji |
149,00 |
152,00 |
- |
- |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
149,80 |
152,80 |
- |
- |
|
|
PNJ |
150,00 |
153,00 |
- |
- |
|
Vàng nhẫn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 8h45 (Tổng hợp: Du Y)
Trên thị trường vàng nhẫn, Công ty SJC đang niêm yết quanh mức 145,9 – 148,9 triệu đồng/lượng.
Tại Phú Quý, giá giao dịch duy trì ở vùng 149,8 – 152,8 triệu đồng/lượng; Doji giữ ổn định quanh 149 – 152 triệu đồng/lượng; trong khi PNJ neo giá ở ngưỡng 150 – 153 triệu đồng/lượng, không thay đổi so với ngày 31/12.
Hiện chênh lệch giá mua – bán vàng nhẫn tại các doanh nghiệp phổ biến khoảng 3 triệu đồng/lượng
Ảnh minh hoạ: Du Y.
Giá vàng tăng nhẹ trong phiên giao dịch ngày thứ Sáu (2/1), tiếp nối đà khởi đầu ấn tượng của năm mới, trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị leo thang và kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất tiếp tục nâng đỡ nhu cầu đối với kim loại quý.
Chốt phiên giao dịch cuối tuần, giá vàng giao ngay đứng quanh 4.313,29 USD/ounce, sau khi có thời điểm vọt lên 4.402,06 USD/ounce trong phiên.
Trước đó, vàng thỏi đã lập đỉnh lịch sử 4.549,71 USD/ounce vào ngày 26/12 và ghi nhận mức tăng 64% trong năm 2025. Trong khi đó, hợp đồng vàng kỳ hạn tháng 2 trên sàn Mỹ chốt phiên giảm 0,3%, xuống 4.329,6 USD/ounce.
Tại thời điểm 7h50 (theo giờ Việt Nam) sáng 3/1, giá vàng giao ngay tăng 0,29% lên 4.330 USD/ounce, theo Kitco. Trong khi giá vàng giao tháng 2 giảm 0,27% xuống 4.345 USD/ounce.
Diễn biến giá vàng thế giới tại sàn giao dịch Kitco. (Nguồn: Kitco).
Ông Bart Melek, Trưởng bộ phận chiến lược hàng hóa toàn cầu tại TD Securities, cho biết: “Chúng tôi tiếp tục thấy thị trường bàn luận về khả năng cắt giảm lãi suất vào tháng 3 và có thể thêm một đợt cắt giảm nữa vào cuối năm nay… sự kết hợp giữa những lo ngại về rủi ro thị trường do thuế quan, cùng với tình trạng nợ công của Mỹ kéo dài, đang thúc đẩy giá vàng, bạc, bạch kim và palladium đi lên.”
Thị trường hiện kỳ vọng Fed sẽ có ít nhất hai lần cắt giảm lãi suất, mỗi lần 0,25 điểm phần trăm, qua đó làm tăng sức hấp dẫn của vàng – tài sản không sinh lãi.
Vàng – kênh trú ẩn an toàn truyền thống – còn được hỗ trợ bởi thông tin bất ổn tại Iran, việc chưa có thỏa thuận hòa bình giữa Nga và Ukraine, cũng như những diễn biến phức tạp liên quan đến Gaza.
“Về mặt kỹ thuật, mục tiêu tăng giá tiếp theo của phe mua đối với hợp đồng vàng tháng 2 là đóng cửa vượt ngưỡng kháng cự mạnh tại vùng đỉnh hợp đồng/đỉnh lịch sử 4.584 USD/ounce,” ông Jim Wyckoff, chuyên gia phân tích cao cấp của Kitco Metals, nhận định trong một báo cáo.
Trên thị trường các kim loại quý khác, vàng vật chất tại Ấn Độ và Trung Quốc lần đầu tiên sau khoảng hai tháng giao dịch với mức chênh lệch giá cao hơn so với thị trường quốc tế.
Giá bạc giao ngay tăng 0,7% lên 71,77 USD/ounce, sau khi chạm đỉnh lịch sử 83,62 USD/ounce vào thứ Hai. Bạch kim bật tăng 3,5% lên 2.125,80 USD/ounce, sau khi cũng lập đỉnh mọi thời đại 2.478,50 USD/ounce trong phiên đầu tuần.
Cả hai kim loại này đều vượt trội so với vàng trong năm 2025, trong đó bạc tăng hơn 147%, nhờ được Mỹ xếp vào nhóm khoáng sản quan trọng, tình trạng thiếu hụt nguồn cung và mức tồn kho thấp trong bối cảnh nhu cầu công nghiệp và đầu tư mạnh mẽ. Bạch kim tăng 127% trong năm ngoái.
Palladium tăng gần 2% lên 1.636,43 USD/ounce, sau khi khép lại năm trước với mức tăng 76% – mức tăng mạnh nhất trong 15 năm. Tuy nhiên, sau đợt bứt phá cuối năm, toàn bộ nhóm kim loại quý đều đang hướng tới mức giảm trong tuần.