Khoảng 200.000 tỷ đồng, tương đương 7,6 tỷ USD là số vốn được các doanh nghiệp lên kế hoạch huy động qua thị trường chứng khoán trong nửa cuối năm 2026, theo tính toán của FiinGroup.
Cụ thể, các doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch đã lên kế hoạch phát hành cổ phiếu với tổng giá trị khoảng 289.500 tỉ đồng trong năm 2026, tăng 86,5% so với năm 2025 và cao hơn 53,7% so với mức huy động bình bình quân 5 năm qua. Trong đó, khoảng 70% kế hoạch phát hành với số vốn dự kiến huy động khoảng 200.000 tỷ đồng vẫn chưa triển khai.
Trong số các doanh nghiệp, nhóm công ty chứng khoán dự kiến huy động hơn 48.000 tỷ đồng để tăng năng lực cho vay ký quỹ (margin) và đầu tư trong bối cảnh nợ ngắn hạn chiếm 96% tổng nợ phải trả toàn ngành. Trong đó, 88% là vay ngắn hạn mà chủ yếu vay ngân hàng dưới 12 tháng, theo thống kê của S&I Rating.
Nhóm doanh nghiệp bất động sản cũng lên kế hoạch phát hành gần 37.300 tỷ đồng.
Tương tự, nhóm ngân hàng lên kế hoạch huy động khoảng 128.000 tỷ đồng trong năm 2026, tăng khoảng 7 lần so với năm 2025 và cao hơn 71,6% so với mức huy động bình quân 5 năm qua.
Động thái này, theo các chuyên gia của FiinGroup, phản ánh nhu cầu củng cố vốn cấp 1, mở rộng bảng cân đối và chuẩn bị cho chu kỳ tăng trưởng tín dụng mới trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn tốc độ huy động, khiến hệ thống rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản.
Bổ sung, ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN), cho biết tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân giai đoạn 2021-2025 cao hơn 3,8% so với tốc độ tăng trưởng huy động vốn đã kéo tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) lên khoảng 112-113% - tức 100 đồng vốn huy động thì hệ thống cho vay khoảng 112-113 đồng. Như vậy, phần thiếu phải được bù đắp bằng các nguồn vốn khác.
Thực tế, bên cạnh kênh cổ phiếu thì kênh trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) cũng thu hút không ít doanh nghiệp tham gia. Điều này phần nào thể hiện qua tổng giá trị phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng trong 6 tháng đầu năm 2026 lần lượt ở mức 187.915 tỷ đồng và 24.833 tỷ đồng, theo thông tin của Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA).
Trong đó, nhóm ngân hàng giữ vị thế dẫn đầu về lãi suất huy động khi hai đợt phát hành trái phiếu của Vietbank trong nửa cuối tháng 6/2026 ghi nhận mức lãi suất thả nổi là 9,7%/năm, mức cao nhất trong những năm gần đây.
Cùng giai đoạn, BaoViet Bank và TPBank lần lượt huy động 2.000 tỷ đồng và 520 tỷ đồng qua kênh trái phiếu với lãi suất 9,63%/năm và khoảng 9-9,3%/năm.
Rộng hơn, dữ liệu của VBMA và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) cho thấy nhóm ngân hàng đã phát hành 18 lô trái phiếu với lãi suất niêm yết đều trên 8%/năm trong nửa cuối tháng 6-2026.
Xu hướng tăng cường huy động vốn qua kênh chứng khoán và trái phiếu của các doanh nghiệp, nhất là nhóm ngân hàng diễn ra trong giai đoạn mặt bằng lãi suất huy động – cho vay neo cao do áp lực thanh khoản.
Đơn cử, lãi suất vay mượn bình quân kỳ hạn qua đêm giữa các ngân hàng (lãi suất các ngân hàng vay mượn lẫn nhau để đáp ứng nhu cầu thanh khoản ngắn hạn) từng chạm mức 13% trong phiên ngày 30/6, mức cao nhất kể từ cuối tháng 3/2026, theo số liệu của Hội Nghiên cứu thị trường liên ngân hàng (VIRA).
Với cấu phần huy động, một số ngân hàng đã áp dụng lãi suất tiền gửi trực tuyến trong khoảng 7-7,8% cho kỳ hạn 6-12 tháng những ngày đầu tháng 7/2026. Thậm chí, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 24-36 tháng tại một số nơi đã vượt 9%.
Bên cạnh biểu lãi suất được niêm yết công khai, cuộc đua lãi suất thỏa thuận cũng nóng dần khi một số ngân hàng triển khai chương trình ưu đãi đi kèm điều kiện về số tiền gửi tối thiểu. Đơn cử, ngân hàng số Cake trả lãi suất lên tới tới 8,7%/năm với khách hàng gửi tiện kiệm từ 100 triệu đồng và 8,4%/năm với khách hàng gửi tiết kiệm từ 5 triệu đồng tại kỳ hạn từ 10 tháng trở lên.
Từ góc nhìn chuyên gia, bà Đoàn Thị Ánh Nguyệt, chuyên gia cao cấp ngành tài chính thuộc Công ty chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) cho biết tỷ lệ tín dụng/GDP tính tới cuối năm 2025 là khoảng 145% (thuộc nhóm cao nhất trong số các quốc gia có thu nhập trung bình thấp - PV), cùng áp lực thanh khoản và cuộc đua lãi suất huy động toàn hệ thống trong nửa đầu năm 2026 cho thấy hệ thống ngân hàng đã tiến đến điểm tới hạn về cơ cấu nguồn vốn và hệ số an toàn hoạt động, buộc hệ thống phải đẩy mạnh huy động nhằm đáp ứng nhu cầu cho vay.
Lạm phát toàn cầu chưa hoàn toàn hạ nhiệt, các ngân hàng Trung ương lớn như Fed, ECB và BOJ thắt chặt chính sách tiền tệ khiến không ít chuyên gia và tổ chức nghiên cứu dự báo mặt bằng lãi suất lãi suất huy động trong nước sẽ tiếp tục neo cao.
Bối cảnh trên buộc mỗi doanh nghiệp, nhà đầu tư và đặc biệt các ngân hàng thương mại phải tập trung nhiều hơn cho việc quản trị dòng tiền nửa cuối năm 2026.
Với các ngân hàng, bà Đoàn Thị Ánh Nguyệt dự báo nhóm có hệ thống quản trị rủi ro tốt, chủ động trích lập dự phòng, cùng nguồn thu ngoài lãi từ thanh toán, quản lý tài sản, bảo hiểm và ngân hàng đầu tư sẽ duy trì tăng trưởng bền vững hơn trong bối cảnh biên lãi thuần (NIM) chịu áp lực.
“Chu kỳ tăng trưởng mới sẽ là cuộc đua về hiệu quả sử dụng vốn, quản trị rủi ro và năng lực khai thác công nghệ, thay vì chỉ mở rộng quy mô tín dụng”, bà Nguyệt dự báo.
Tương tự, các chuyên gia của Công ty chứng khoán Yuanta Việt Nam dự báo nhu cầu vốn trung và dài hạn tiếp tục gia tăng khiến chi phí vốn khó có thể quay về mức thấp như giai đoạn trước. Trong bối cảnh đó, lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về những ngân hàng có nền tảng huy động ổn định, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) cao, bộ đệm vốn tốt và chất lượng tài sản bền vững.
Với giới đầu tư, các chuyên gia của FiinGroup lưu ý việc theo dõi sát rủi ro pha loãng cổ phiếu trên thị trường chứng khoán trong nửa cuối năm 2026 khi khối lượng cổ phiếu phát hành mới cho mục đích huy động vốn (bao gồm phát hành vốn cổ phần và chia tách) dự kiến đạt khoảng 48,2 tỷ cổ phiếu, tăng 26% so với năm 2025 và tương đương khoảng 17,1% tổng số cổ phiếu đang lưu hành tại thời điểm cuối năm 2025 - mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây.
“Trong bối cảnh thanh khoản thị trường chưa phục hồi mạnh, khối ngoại tiếp tục bán ròng và tăng trưởng lợi nhuận có dấu hiệu phân hóa hơn giữa các nhóm ngành, lượng nguồn cung cổ phiếu lớn sắp được đưa ra thị trường có thể làm gia tăng rủi ro pha loãng cũng như áp lực lên mặt bằng định giá”, chuyên gia của FiinGroup lưu ý.