Trong báo cáo cập nhật cuối tháng 6, bộ phận phân tích Chứng khoán MB (MBS Research) ước tính lợi nhuận quý II/2026 của toàn thị trường có thể tăng 15% so với cùng kỳ, trong bối cảnh vĩ mô còn nhiều thách thức từ áp lực giá dầu và lạm phát.
Theo nhóm phân tích, điểm sáng lợi nhuận tập trung ở một số ngành như vận tải, bất động sản khu công nghiệp, bán lẻ và dầu khí. Ở chiều ngược lại, hàng không, xuất khẩu và bất động sản dân cư vẫn chịu sức ép từ chi phí đầu vào, lãi suất và sức cầu.
Tăng trưởng lợi nhuận quý II phân hoá giữa các nhóm ngành. (Ảnh minh hoạ: AI tạo).
Với nhóm ngân hàng, lợi nhuận sau thuế quý II của các nhà băng trong phạm vi theo dõi được dự báo tăng khoảng 16% so với cùng kỳ. Tăng trưởng tín dụng của nhóm này ước đạt khoảng 9% so với đầu năm vào cuối quý II, tiếp tục được dẫn dắt bởi phân khúc khách hàng doanh nghiệp.
Trong đó, VPB và HDB được dự báo duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng vượt trội so với mặt bằng chung, nhờ nhóm ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc được cấp hạn mức tín dụng cao hơn và không bị hạn chế tăng tín dụng theo từng quý.
Dù vậy, bức tranh ngân hàng không hoàn toàn dễ thở. Mặt bằng lãi suất huy động trong quý II đã hạ nhiệt so với cuối quý I, nhưng vẫn ở mức cao hơn so với cùng kỳ. Do đó, NIM toàn ngành được dự báo tiếp tục thu hẹp.
Thu nhập lãi thuần trong quý II của nhóm ngân hàng được theo dõi dự kiến tăng 15,7% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng 11,3% của thu nhập ngoài lãi. Áp lực nợ xấu vẫn hiện hữu, trong khi xu hướng cải thiện chưa thực sự rõ nét. Chi phí trích lập của các ngân hàng trong phạm vi theo dõi được dự báo tăng khoảng 19%.
Điều này cho thấy ngân hàng vẫn là nhóm quan trọng giúp nâng đỡ lợi nhuận thị trường, nhưng chất lượng tăng trưởng còn chịu thử thách bởi chi phí vốn, NIM và dự phòng rủi ro.
(Nguồn: MBS).
Ở nhóm tăng trưởng nổi bật, lợi nhuận ngành vận tải được dự báo tăng 65% so với cùng kỳ, bất động sản khu công nghiệp tăng 58%, bán lẻ tăng 34% và dầu khí tăng 28%.
Với vận tải, hoạt động xuất nhập khẩu tích cực là yếu tố hỗ trợ chính. Trong 5 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng 25% so với cùng kỳ, qua đó thúc đẩy sản lượng container qua hệ thống cảng biển tăng khoảng 10,5%.
Báo cáo cho rằng mùa cao điểm năm nay đến sớm hơn, khi các nhà bán lẻ tại những thị trường xuất khẩu lớn như Mỹ và EU đẩy mạnh nhập hàng trước rủi ro tăng chi phí vận chuyển và thay đổi chính sách thuế.
Tuy nhiên, mức tăng trưởng lợi nhuận của nhóm vận tải không phản ánh sự khởi sắc đồng đều của toàn ngành. GMD và PHP được đánh giá hưởng lợi rõ hơn nhờ sản lượng qua cảng, hiệu suất khai thác và đóng góp từ các cảng nước sâu. Riêng GMD còn có yếu tố lợi nhuận bất thường từ thương vụ hoán đổi cổ phần với CJ Logistics.
Ở chiều ngược lại, các doanh nghiệp như HAH và VTP chịu áp lực lớn hơn từ chi phí nhiên liệu. Điều này cho thấy cùng một nhóm vận tải, động lực lợi nhuận giữa cảng biển, vận tải biển và chuyển phát có sự khác biệt đáng kể.
Với bất động sản khu công nghiệp, dòng vốn FDI vào Việt Nam vẫn tích cực bất chấp bất ổn địa chính trị và căng thẳng thương mại. Trong 5 tháng đầu năm, vốn FDI giải ngân đạt 8,1 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ; vốn FDI đăng ký mới đạt 9,6 tỷ USD, tăng 131%.
Định hướng chuyển đổi từ khu công nghiệp truyền thống sang khu công nghiệp sinh thái, xanh, thông minh và công nghệ cao được xem là câu chuyện dài hạn của ngành. Báo cáo đánh giá cao các doanh nghiệp sở hữu quỹ đất lớn chưa khai thác và có khả năng chuyển đổi sang mô hình khu công nghiệp thế hệ mới như BCM, KBC và IDC.
Dù vậy, tăng trưởng lợi nhuận quý II của nhóm này có đóng góp đáng kể từ tiền đền bù đất của PHR và GVR, thay vì chỉ đến từ hoạt động cho thuê khu công nghiệp thuần túy. Đây là điểm cần lưu ý khi nhìn vào mức tăng cao của toàn ngành.
Bán lẻ cũng là điểm sáng tương đối trong mùa báo cáo quý II. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 5 tháng đầu năm tăng 11,2% so với cùng kỳ, nhưng nếu loại trừ yếu tố giá chỉ tăng 6,1%. Điều này cho thấy cầu tiêu dùng nội địa chưa thật sự phục hồi mạnh trong bối cảnh lạm phát cao và thu nhập cải thiện chậm.
Điểm tích cực của ngành nằm nhiều hơn ở các chuỗi bán lẻ hiện đại, mô hình bán lẻ hàng thiết yếu, điện máy, gia dụng và laptop. Các doanh nghiệp như MWG, FRT, DGW và PNJ được dự báo duy trì tăng trưởng nhờ mở rộng chuỗi, phục hồi nhu cầu điện máy - công nghệ, cũng như khả năng điều chỉnh sản phẩm và giá bán.
Trong khi đó, dầu khí được hỗ trợ bởi giá dầu Brent duy trì ở mức cao trong quý, bình quân khoảng 97 USD/thùng. Các dự án dầu khí trọng điểm trong nước được đẩy nhanh triển khai cũng tạo động lực cho nhóm thượng nguồn như PVS và PVD. Ở hạ nguồn, BSR được kỳ vọng phục hồi nhờ crack spread cải thiện và không còn chịu áp lực lớn từ đánh giá lại hàng tồn kho như cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi trong ngành dầu khí cũng phân hóa. GAS có thể ghi nhận lợi nhuận giảm do nền so sánh cao của cùng kỳ năm trước, khi doanh nghiệp ghi nhận khoản hoàn nhập dự phòng lớn.
Trái với các nhóm tăng trưởng nổi bật, lợi nhuận hàng không được dự báo giảm 61% so với cùng kỳ, còn xuất khẩu giảm 35%.
Với hàng không, áp lực lớn nhất đến từ chi phí nhiên liệu. Giá nhiên liệu tăng cao khiến giá vé tăng, trong khi các hãng bay phải cắt giảm một số chuyến hiệu quả thấp để tối ưu chi phí. Điều này tác động đến sản lượng hành khách cũng như biên lợi nhuận của doanh nghiệp trong ngành.
ACV được dự báo chịu ảnh hưởng từ sản lượng hành khách kém thuận lợi hơn và chi phí khấu hao tăng sau khi các hạ tầng mới đi vào vận hành. Trong khi đó, HVN chịu áp lực rõ hơn từ giá nhiên liệu tăng mạnh, khiến biên lợi nhuận bị thu hẹp trong quý II.
Ở nhóm xuất khẩu, bối cảnh bên ngoài còn nhiều biến động. Một số doanh nghiệp có đơn hàng nhờ xu hướng nhập hàng sớm tại Mỹ và các thị trường lớn, nhưng chi phí vận chuyển, giá bán và nền so sánh cao khiến lợi nhuận nhiều doanh nghiệp chịu áp lực. Báo cáo đề cập PTB vẫn có kết quả tích cực hơn nhờ đơn hàng gỗ, đá và nhu cầu nội địa, trong khi ANV và DGC chịu sức ép lớn hơn từ nền so sánh, giá bán, nguyên liệu và chi phí vận chuyển.
Bất động sản dân cư cũng là nhóm kém thuận lợi trong quý II. Nhóm phân tích cho rằng thị trường bước vào giai đoạn trầm lắng do lãi suất tín dụng tăng cao và tâm lý nhà đầu tư thận trọng hơn trước các thay đổi về quy hoạch tại một số thành phố lớn.
Mặt bằng lãi suất cho vay bất động sản được ghi nhận ở vùng 12–13%, tăng khoảng 1 điểm phần trăm so với cùng kỳ, khiến người mua nhà thận trọng hơn. Do thị trường ảm đạm và lãi vay cao, các doanh nghiệp bất động sản chủ yếu tập trung bàn giao các dự án đã mở bán trong giai đoạn trước, thay vì triển khai dự án mới.
Nhìn chung, dự báo lợi nhuận toàn thị trường tăng 15% cho thấy mùa báo cáo quý II có thể không quá tiêu cực ở bề mặt số liệu. Tuy nhiên, sự phân hóa giữa các nhóm ngành cho thấy nhà đầu tư cần đọc kỹ hơn chất lượng tăng trưởng: lợi nhuận đến từ hoạt động cốt lõi, nền thấp, yếu tố chu kỳ hay khoản bất thường.
Trong môi trường chi phí vốn, nhiên liệu và nguyên liệu đầu vào còn tạo sức ép, con số lợi nhuận chung có thể chưa phản ánh đầy đủ sức khỏe của từng nhóm doanh nghiệp.
Giá dầu duy trì ở mức cao trong phần lớn quý II/2026 cùng tiến độ triển khai các dự án dầu khí trọng điểm đã tạo lực đẩy cho triển vọng kinh doanh của nhiều doanh nghiệp trong ngành. Trong bối cảnh đó, nhiều doanh nghiệp dầu khí được kỳ vọng ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực, dù mức độ hưởng lợi vẫn phụ thuộc vào đặc thù từng đơn vị và diễn biến giá dầu.
Ông Nguyễn Bá Sáng, Chủ tịch HĐQT An Gia, cho biết doanh nghiệp hiện không chịu nhiều tác động từ bối cảnh tín dụng hiện nay do phần lớn sản phẩm đã được tiêu thụ. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn duy trì quan điểm thận trọng trước những biến động của thị trường.
Chủ tịch Tập đoàn Phúc Sơn cam kết hoàn trả hơn 7.000 tỷ đồng cho người mua đất dự án sân bay Nha Trang trong 90 ngày, song nhiều bị hại đề nghị được nhận đất.
Nhiều doanh nghiệp đã không thể tổ chức ĐHĐCĐ thường niên 2026 ngay từ lần triệu tập đầu tiên do không đủ tỷ lệ cổ đông tham dự theo quy định. Thậm chí, có doanh nghiệp ghi nhận tỷ lệ tham dự ở mức 0%.