26/05/2026 07:21

Moody’s Ratings: Các ngân hàng Việt Nam và châu Á đối mặt rủi ro tín dụng gia tăng vì xung đột Trung Đông

Giá năng lượng duy trì ở mức cao do Trung Đông kéo dài có thể sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến các ngân hàng tại châu Á - Thái Bình Dương, trong bối cảnh áp lực lạm phát, lãi suất và tỷ giá gây rủi ro đến danh mục cho vay.

Logo của tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody's. (Ảnh: Reuters).

Xung đột tại Trung Đông và nguy cơ eo biển Hormuz bị đóng cửa trong thời gian dài đang khiến giá dầu neo ở mức cao, làm gia tăng rủi ro tín dụng đối với các ngân hàng châu Á - Thái Bình Dương.

Theo kịch bản cơ sở mới của Moody's Ratings, giá dầu có thể duy trì quanh ngưỡng 90 - 110 USD/thùng trong phần lớn năm 2026, gây áp lực lên tăng trưởng GDP, lạm phát và tỷ giá tại những nền kinh tế phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu trong khu vực.

Điều này có thể khiến chất lượng các khoản vay suy giảm, đồng thời ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của các ngân hàng.

Moody’s cũng dự báo áp lực lạm phát sẽ buộc nhiều ngân hàng trung ương (NHTW) phải tăng lãi suất, qua đó tác động đến chi phí tài trợ và lợi nhuận cuối cùng của giới nhà băng.

Các nhóm nợ vay chịu rủi ro lớn nhất

Theo đánh giá của Moody's , các khoản vay hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) sẽ là nhóm dễ tổn thương nhất nếu giá năng lượng neo cao trong lâu dài. .

Tổ chức này không dự đoán các nền kinh tế trong khu vực sẽ suy yếu nghiêm trọng, nhưng lưu ý lạm phát thực phẩm và nhiên liệu cùng mặt bằng lãi suất cao sẽ bào mòn thu nhập khả dụng của người dân và dòng tiền của các SME.

Vì vậy, Moody’s dự đoán áp lực đối với các khoản vay này sẽ tăng dần theo thời gian, nhưng nhìn chung mức độ suy giảm chất lượng của chúng vẫn sẽ nằm trong tầm kiểm soát.

Các khoản vay bán lẻ, các khoản vay tiêu dùng tín chấp sẽ chịu tác động mạnh hơn so với nợ vay thế chấp mua nhà. Các nhà băng ở Indonesia và Philippines được xem là dễ bị tổn thương vì các khoản vay tiêu dùng chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng nợ vay hoặc tăng trưởng nhanh trong vài năm gần đây.

Tuy nhiên, với nhóm nợ vay dành cho SME, các ngân hàng ở Việt Nam, Thái Lan, Mông Cổ và nhiều nền kinh tế khác lại dễ chịu ảnh hưởng hơn. Trong đó, Thái Lan chịu nhiều rủi ro nhất vì các SME ở nước này đã chịu áp lực suốt nhiều năm.

 

Ngoài khu vực hộ gia đình và SME, các doanh nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng cũng có thể trở thành kênh truyền dẫn rủi ro sang hệ thống ngân hàng. Những ngành chịu tác động tiêu cực rõ nhất bao gồm hàng không, hóa chất và phân phối nhiên liệu do chi phí đầu vào tăng mạnh vì cú sốc năng lượng.

Tuy nhiên, Moody’s Ratings lưu ý tổng dư nợ của các ngân hàng châu Á dành cho những ngành này chỉ chiếm khoảng 1% - 2% tổng cho vay, nên rủi ro nhìn chung vẫn ở mức kiểm soát được.

Những lĩnh vực khác cũng được dự báo là sẽ gặp áp lực vừa phải vì lạm phát và lãi suất gia tăng bao gồm sản xuất, xây dựng, bất động sản, khách sạn, khoáng sản, bán lẻ, thương mại, vận tải và nông nghiệp

Tác động lên lợi nhuận không đồng đều

Nhìn chung, Moody’s cho rằng tác động lên lợi nhuận ngân hàng sẽ không đồng đều. Lãi suất cao hơn có thể giúp nhiều ngân hàng duy trì biên lãi ròng, nhưng sự gia tăng của các khoản vay có vấn đề sẽ buộc họ phải tăng trích lập dự phòng. Tại một số ngân hàng châu Á, chi phí tín dụng đã tăng khoảng 10-30 điểm cơ bản (bps) trong quý I.

Các ngân hàng có danh mục cho vay bán lẻ và SME lớn, đặc biệt tại Thái Lan, Indonesia và Philippines, có thể chứng kiến lợi nhuận suy yếu vì chi phí dự phòng tăng lên. Tuy vậy, Moody’s nhận định nguồn thu cốt lõi của các ngân hàng nhìn chung vẫn đủ để hấp thụ các tổn thất này mà không gây rủi ro tới khả năng thanh toán.

 

Chính sách tiền tệ thắt chặt có thể kéo dài hơn dự kiến tại thị trường mới nổi

Như đã nói ở trên, theo kịch bản cơ sở của Moody's, áp lực lạm phát  xuất phát từ xung đột Trung Đông sẽ buộc NHTW tại nhiều nền kinh tế mới nổi và cận biên phải duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn dự kiến.

Moody’s dự kiến NHTW Ấn Độ, Indonesia, Philippines và Bangladesh sẽ đối mặt áp lực tăng lãi suất nhằm kiểm soát lạm phát, hỗ trợ đồng nội tệ hoặc cả hai. Trên thực tế, trong tháng 4 và 5, Indonesia, Philippines, Australia và Singapore đã có động thái thắt chặt chính sách tiền tệ.

Môi trường lãi suất cao sẽ kéo chi phí huy động vốn của các ngân hàng đi lên, do người gửi tiền đòi hỏi mức lãi suất hấp dẫn hơn. Những ngân hàng phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn ngắn hạn hoặc vốn có lãi suất thả nổi sẽ phải chuyển một phần chi phí này sang khách hàng vay, từ đó làm gia tăng áp lực lên chất lượng tín dụng.

Bên cạnh đó, rủi ro lãi suất cũng trở nên rõ nét hơn khi lợi suất trái phiếu chính phủ tăng mạnh từ tháng 3/2026. Các ngân hàng nắm giữ lượng lớn trái phiếu kỳ hạn dài, đặc biệt tại Philippines, Nhật Bản và Hàn Quốc, đang chịu áp lực từ danh mục đầu tư chứng khoán mất giá.

các khoản lỗ chưa thực hiện này có thể làm suy giảm tỷ lệ an toàn vốn của một số ngân hàng, và trên thực tế, hiện tượng này đã xuất hiện tại Philippines.

Tỷ giá cũng là một kênh rủi ro đáng chú ý đối với hệ thống ngân hàng tại một số nước. Kể từ khi xung đột Trung Đông bùng nổ, đồng tiền của nhiều nền kinh tế phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng hoặc dòng vốn nước ngoài như Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia, Thái Lan, Philippines và Indonesia đã giảm khoảng 3% - 7% so với USD.

Đồng nội tệ suy yếu khiến gánh nặng trả nợ của các doanh nghiệp vay USD nhưng không phòng hộ tỷ giá tăng lên, qua đó làm gia tăng lo ngại về chất lượng tài sản của ngân hàng.

Ngoài ra, Moody’s cũng lưu ý nguy cơ dòng vốn ngoại rút khỏi một số thị trường châu Á khi chi phí nhập khẩu năng lượng tăng cao và tâm lý chốt lời gia tăng. Trong tháng 3/2026, Ấn Độ, Hàn Quốc và Đài Loan đã ghi nhận tình trạng dòng vốn ngoại chảy ra đáng kể. Dù vậy, hoạt động huy động vốn trên thị trường trái phiếu trong khu vực nhìn chung vẫn duy trì ổn định.

Rủi ro khác đến từ dòng kiều hối từ các quốc gia vùng Vịnh. Philippines và Bangladesh được xem là dễ bị ảnh hưởng hơn do phụ thuộc đáng kể vào lượng kiều hối từ lao động làm việc tại Trung Đông. Moody’s chỉ ra nếu xung đột kéo dài và thị trường lao động tại khu vực này suy yếu, dòng kiều hối có thể giảm tốc, gây áp lực lên thanh khoản ngân hàng và tiêu dùng nội địa.

Giang
QUẢNG CÁO
QUẢNG CÁO