Trong tháng 4/2026, số lượng đơn đặt hàng mới giảm lần đầu tiên trong 8 tháng. Trong khi đó, chi phí đầu vào và giá cả đầu ra tăng mạnh nhất kể từ tháng 4/2011. Vì vậy, sản lượng tiếp tục tăng, nhưng tốc độ tăng là thấp nhất trong mười tháng
Với số lượng đơn đặt hàng mới giảm, các công ty đã giảm số lượng việc làm, hoạt động mua hàng và hàng tồn kho. Tâm lý kinh doanh giảm và đạt mức thấp nhất kể từ tháng 9 năm ngoái.
Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam của S&P Global đã giảm xuống mức thấp của 7 tháng là 50,5 điểm trong tháng 4 so với 51,2 điểm của tháng 3.
Kết quả chỉ số cho thấy các điều kiện kinh doanh tổng thể của ngành sản xuất đã cải thiện tháng thứ 10 liên tiếp, mặc dù mức độ cải thiện chỉ là nhỏ. Nhân tố giúp giữ chỉ số toàn phần duy trì ở vùng tăng trưởng trong tháng 4 là sản lượng vẫn duy trì đà tăng.
Sản lượng đã tăng tháng thứ 12 liên tiếp, phản ánh việc thực hiện các dự án hiện có và khả năng duy trì của nhu cầu cơ bản. Tuy nhiên, tốc độ tăng là chậm nhất kể từ tháng 6/2025 trong bối cảnh áp lực lạm phát tăng, nguồn cung khan hiếm và thị trường bất ổn do cuộc chiến tranh ở Trung Đông.
Trong khi sản lượng tiếp tục tăng, các kết quả khác của khảo sát đã vẽ một bức tranh ảm đạm hơn về các điều kiện kinh doanh của ngành sản xuất trong tháng 4. Số lượng đơn đặt hàng mới giảm lần đầu trong tám tháng khi giá cả tăng đã ảnh hưởng tới khả năng có được đơn đặt hàng mới của các công ty.
Sức ảnh hưởng này thậm chí còn rõ hơn đối với số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới, một chỉ số cũng chịu ảnh hưởng của chi phí vận tải tăng. Số lượng đơn đặt hàng mới từ nước ngoài giảm đáng kể tháng thứ hai liên tiếp.
Giá cả đầu vào đang tăng nhanh. (Nguồn: S&P Global).
Chi phí nhiên liệu và dầu tăng trong tháng4, và cước phí vận tải tăng khiến chi phí đầu vào tăng nhanh với tốc độ tăng nhanh nhất trong 15 năm. Điều này dẫn đến giá cả đầu ra cũng tăng mạnh với tốc độ tăng giá là nhanh nhất kể từ tháng 4/2011.
Với số lượng đơn đặt hàng mới giảm, các nhà sản xuất đã giảm lao động. Một số công ty cũng báo cáo tình trạng nhân viên nghỉ việc. Số lượng lao động đã giảm tháng thứ hai liên tiếp.
Sau khi tăng nhẹ trong tháng 3, lượng công việc tồn đọng giảm trong tháng 4 và tốc độ giảm là nhanh nhất kể từ tháng 9 năm ngoái. Các công ty cũng giảm hoạt động mua hàng và hàng tồn kho vào thời điểm đầu Quý II/2026.
Hoạt động mua hàng hóa đầu vào giảm là do số lượng đơn đặt hàng mới giảm, nhưng việc mua hàng trước của một số nhà sản xuất để cố gắng giảm thiểu những khó khăn về giá cả và nguồn cung đã khiến tốc độ giảm mua hàng chỉ là nhẹ và yếu hơn so với tháng 3.
Tuy nhiên, tốc độ giảm tồn kho cả hàng mua và hàng thành phẩm đều tăng. Những vấn đề liên quan đến chi phí và khả năng vận chuyển, cũng như tình trạng khan hiếm nguyên vật liệu, đã khiến thời gian giao hàng của nhà cung cấp bị kéo dài trong tháng 4. Hơn nữa, hiệu suất hoạt động của nhà cung cấp đã suy giảm với mức độ lớn nhất trong bốn năm rưỡi.
Những lo ngại về ảnh hưởng của cuộc chiến tranh Trung đông đã khiến tâm lý lạc quan của các nhà sản xuất Việt Nam tiếp tục giảm. Tâm lý kinh doanh đã giảm xuống mức thấp của 7 tháng và thấp hơn mức trung bình của lịch sử chỉ số. Tuy nhiên, các công ty tiếp tục dự báo sản lượng sẽ tăng trong năm tới nhờ hy vọng về việc phục hồi số lượng đơn đặt hàng mới và môi trường thị trường ổn định hơn.
Ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence, cho hay giá cả và sự gián đoạn nguồn cung do cuộc chiến tranh Trung Đông tiếp tục ảnh hưởng đến tăng trưởng của ngành sản xuất Việt Nam trong tháng 4, khi chi phí nhiên liệu, dầu và vận tải tăng gây áp lực cho cả nhu cầu và nguồn cung.
"Mặc dù sản lượng tiếp tục tăng trong kỳ khảo sát lần này, tốc độ tăng đã chậm lại thành mức thấp, và với số lượng đơn đặt hàng mới giảm về vùng suy thoái, có vẻ như sản lượng sẽ giảm theo trong những tháng tới, trừ khi môi trường giá cả và nguồn cung sẽ cải thiện sớm", ông Andrew Harker nói.
4 tháng đầu năm, tiêu dùng trong nước tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, với tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 2,55 triệu tỷ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ.
4 tháng đầu năm nay, hoạt động sản xuất công nghiệp ghi nhận tín hiệu tích cực với IIP tăng 9,2% so với cùng kỳ, trong đó ngành chế biến, chế tạo tiếp tục là trụ cột đóng góp lớn nhất vào mức tăng chung.
Đến hết tháng 1/2026, tại các địa phương, gần 26.000 cơ sở nhà, đất xác định rõ chủ thể quản lý, sử dụng, song vẫn còn hơn 10.000 cơ sở thuộc diện phải tiếp tục quyết định hiệu quả khai thác tài sản.
Dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) tập trung vào các nội dung khác nhau; trong đó có nội dung hoàn thiện cơ chế chính sách quy định về ưu đãi đầu tư trong hoạt động dầu khí.