Theo Báo Giao thông, ngày 29/10, UBND tỉnh Sóc Trăng đã có công văn gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét, chấp thuận trình Thủ tướng về dự án đầu tư xây dựng cảng Trần Đề. Dự kiến, dự án này sẽ hoàn thành hồ sơ thủ tục đầu tư trong năm 2025 và triển khai đầu tư vào năm 2026.
Tỉnh Sóc Trăng cũng đề nghị ngân sách Trung ương đầu tư giai đoạn 2025 - 2030 hỗ trợ địa phương này với tổng số vốn là 19.403 tỷ đồng để đầu tư xây dựng một số hạng mục, như: đường sau cảng kết nối với bến cảng ngoài khơi Trần Đề, cầu vượt biển và đê kè chắn sóng, luồng tàu và vũng quay tàu.
UBND tỉnh Sóc Trăng nhận định, dự án cảng Trần Đề có vốn đầu tư lớn, khả năng thu hồi vốn chậm, được đầu tư trên địa bàn đặc biệt khó khăn nên việc kêu gọi đầu tư tư nhân gặp nhiều thách thức.
Do đó, địa phương cho rằng ngoài nguồn vốn kêu gọi xã hội hóa đầu tư các bến cảng theo quy hoạch, cần bố trí nguồn vốn ngân sách nhà nước để đầu tư kết cấu hạ tầng hàng hải công cộng. Từ đó có thể tăng tính hấp dẫn để kêu gọi đầu tư bằng nguồn vốn tư nhân, tương tự như các khu bến cảng cửa ngõ khác đã kêu gọi trong thời gian qua.
Mô hình cảng Trần Đề (Ảnh: Báo Đầu tư).
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, khu cảng Trần Đề được định hướng trở thành cảng nước sâu cửa ngõ của Đồng bằng sông Cửu Long.
Với thiết kế quy mô lớn, bao gồm các bến tổng hợp, container, hàng rời và cảng khách, có khả năng tiếp nhận tàu có trọng tải lên đến 160.000 DWT, dự án này được kỳ vọng sẽ nâng tầm vị thế của Sóc Trăng và các địa phương lân cận.
Theo nghiên cứu sơ bộ của UBND tỉnh Sóc Trăng, khu bến cảng ngoài khơi Trần Đề có diện tích mặt bằng cảng 411,25 ha, trong đó giai đoạn khởi động 81,6 ha.
Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu Thanh tra Chính phủ sớm khắc phục vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ, tăng cường kết nối dữ liệu toàn quốc phục vụ cơ sở dữ liệu thanh tra kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức.
4 ngân hàng gồm Agribank, MB, BIDV và MBV cấp hạn mức tín dụng gần 25.500 tỷ đồng xây dựng đường Vành đai 4.
Thế giới ngày nay không còn luân phiên giữa “bình yên” và “khủng hoảng” nữa, mà tồn tại trong trạng thái biến động liên tục từ bất bình thường này đến bất bình thường khác. Trong sự thay đổi không ngừng đó, tốc độ thích nghi của nền kinh tế trở nên quan trọng hơn so tốc độ tăng trưởng.
Tỷ lệ tiết kiệm của người dân Việt Nam rất lớn lên tới 37% GDP. Đây là một nguồn lực có sẵn và có thể kích cầu bất cứ lúc nào, qua đó thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ.