Từ đầu năm 2026 đến nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) liên tục có những động thái điều hành liên quan đến tăng trưởng tín dụng, mặt bằng lãi suất, thanh khoản và các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng.
Chuỗi chính sách cho thấy định hướng khá rõ nét: tạo thêm dư địa cho hệ thống ngân hàng cung ứng vốn, giảm áp lực chi phí vốn nhưng không mở rộng tín dụng theo hướng đại trà.
Các động thái này diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng mạnh hơn dự kiến. Tăng trưởng GDP quý II/2026 đạt 8,39%, đưa tăng trưởng 6 tháng lên 8,18%. Tuy nhiên, tăng trưởng cao cũng khiến bài toán điều hành phức tạp hơn khi nhu cầu vốn gia tăng, trong khi lạm phát, tỷ giá và thanh khoản vẫn là những biến số cần theo dõi.
| Thời gian | Văn bản / chính sách | Nội dung chính | Tác động / ý nghĩa |
|
31/12/2025 (nền tảng cho điều hành tín dụng năm 2026) |
Công văn 11686/NHNN-CSTT – Kiểm soát tăng trưởng tín dụng năm 2026 | NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%; giao chỉ tiêu theo nguyên tắc công khai, minh bạch. Tín dụng BĐS của từng TCTD không được tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của chính ngân hàng. | Tiếp tục duy trì room tín dụng, nhưng chuyển sang cơ chế phân bổ có công thức, gắn với chất lượng/xếp hạng TCTD. |
| 9/1/2026 | Chỉ thị 01/CT-NHNN – Nhiệm vụ trọng tâm ngành Ngân hàng 2026 | Điều hành CSTT linh hoạt; dự kiến tín dụng toàn hệ thống ~15%, có thể điều chỉnh tăng/giảm theo thực tế. Chỉ đạo tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và động lực tăng trưởng; kiểm soát BĐS và lĩnh vực rủi ro. | Định hướng CSTT chủ đạo của năm 2026: Hỗ trợ tăng trưởng nhưng không nới lỏng đại trà. |
| 10/4/2026 | Thông báo 117/TB-NHNN – Giảm mặt bằng lãi suất | Yêu cầu NHTM giảm khoảng 0.5–1 điểm %/năm lãi suất tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, hạn chế cạnh tranh huy động và tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay. | Kiểm soát cuộc đua lãi suất. |
| 15/5/2026 | Thông tư 08/2026/TT-NHNN – Điều chỉnh cách tính LDR | Cho phép tính 20% số dư tiền gửi có kỳ hạn của KBNN vào mẫu số LDR; tiền gửi không kỳ hạn KBNN vẫn loại khỏi mẫu số. | Nới kỹ thuật LDR, đặc biệt có lợi cho nhóm Big 4 vì nắm phần lớn tiền gửi KBNN; tạo thêm dư địa cho vay mà không cần tăng huy động tương ứng. |
| 14/5/2026 | Công văn 3972/NHNN-CSTT – Kiểm tra giảm mặt bằng lãi suất | Yêu cầu NHNN khu vực kiểm tra các chi nhánh NHTM về việc thực hiện chỉ đạo giảm lãi suất. | Tiếp tục khuyến nghị liên quan đến việc giảm lãi suất. |
| 21/5/2026 | Công văn 4190/NHNN-CSTT – Đôn đốc kiểm tra giảm lãi suất | NHNN khu vực phải tổ chức họp với NHTM, quán triệt giảm lãi suất và xử lý nếu phát hiện vi phạm. | Tăng tính ràng buộc của chính sách giảm lãi suất; hạn chế NHTM tăng lãi suất huy động trở lại. |
| 29/5/2026 | Công văn 4551/NHNN-CSTT – Nới room tín dụng BĐS có chọn lọc | Trong năm 2026, không tính phần dư nợ tăng thêm so với cuối 2025 đối với nhà ở xã hội, KCN/KCX vào dư nợ BĐS khi kiểm soát tăng trưởng tín dụng BĐS. Áp dụng cho 25 NHTM. | Nới room có mục tiêu, hỗ trợ NOXH, KCN/KCX nhưng không nới tín dụng BĐS đại trà. |
| 22/6/2026 | Công văn 5386/NHNN-TD – Loại trừ 18 dự án trọng điểm khỏi room | Cho phép loại trừ dư nợ phát sinh mới đối với 18 dự án trọng điểm của Vingroup, Sun Group và Masterise khi tính tăng trưởng tín dụng hàng năm của NHTM. | Một bước "mở room có mục tiêu" quy mô lớn, ưu tiên hạ tầng, APEC, đường sắt, hàng không và các dự án có tính lan tỏa. |
| 22/6/2026 | Thông tư 25/2026/TT-NHNN – Sửa TT22/2019 | Tăng trần vốn ngắn hạn cho vay trung-dài hạn từ 30% $\rightarrow$ 40%; đồng thời duy trì cơ chế tính 20% tiền gửi KBNN vào mẫu số LDR và cho phép Thống đốc điều chỉnh tỷ lệ này theo từng thời kỳ. | Nới đáng kể ràng buộc thanh khoản/kỳ hạn, hỗ trợ khả năng mở rộng tín dụng trung-dài hạn và giảm áp lực huy động vốn dài hạn. Hiệu lực 01/07/2026. |
| 10/8/2026 | Văn bản 7125/NHNN-TD – Chương trình tín dụng cho động lực tăng trưởng & SME | Yêu cầu NHTM xây dựng chương trình tín dụng cho DNNVV và các động lực tăng trưởng; lãi suất VND ưu đãi thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của ngân hàng. | Chuyển trọng tâm từ "bơm tín dụng" sang "bơm tín dụng đúng đối tượng + giảm chi phí vốn". |
| 13/8/2026 | Chỉ đạo mới về giảm lãi suất & room 2027 | NHNN tiếp tục yêu cầu giảm thực chất lãi suất; mức độ tuân thủ giảm lãi suất sẽ được xem xét khi giao room tín dụng 2027. | Từ 2H26, room tín dụng trở thành công cụ kỷ luật lãi suất: ngân hàng không tuân thủ có thể bị giảm room năm 2027. |
Nguồn: SBV, Chứng khoán Guotai Haitong VN.
Định hướng điều hành năm 2026 đã được NHNN đặt ra từ cuối năm 2025 với mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%. Đến ngày 9/1, Chỉ thị 01 tiếp tục xác định tín dụng là một trong những công cụ quan trọng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, song việc điều hành được thực hiện linh hoạt và có thể điều chỉnh theo diễn biến thực tế. Thông điệp xuyên suốt là hỗ trợ tăng trưởng nhưng không nới lỏng tín dụng đại trà.
Trong những tháng tiếp theo, chính sách dần cho thấy sự dịch chuyển từ câu chuyện quy mô tín dụng sang điều kiện cung ứng vốn và hướng đi của dòng tiền. NHNN không chỉ quan tâm tín dụng tăng bao nhiêu mà bắt đầu sử dụng các công cụ để tác động đến chi phí vốn, khả năng cung ứng vốn cũng như những lĩnh vực được ưu tiên tiếp cận tín dụng.
Một trong những nhóm chính sách nổi bật xuất hiện từ tháng 4 là yêu cầu giảm mặt bằng lãi suất. NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động, hạn chế cạnh tranh không lành mạnh trong huy động vốn, qua đó tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay. Chủ trương này được tiếp tục cụ thể hóa bằng các yêu cầu kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện trong tháng 5.
Việc liên tiếp có các văn bản từ định hướng giảm lãi suất đến kiểm tra và đôn đốc cho thấy NHNN không chỉ dừng ở việc đưa ra chủ trương. Nhà điều hành đang tăng tính ràng buộc đối với việc giảm chi phí vốn trong hệ thống ngân hàng, trong bối cảnh mặt bằng lãi suất huy động có dấu hiệu chịu áp lực trở lại.
Song song với việc giảm “giá vốn”, NHNN cũng có các động thái mở rộng dư địa tín dụng theo hướng chọn lọc. Cuối tháng 5, nhà điều hành quyết định không tính phần dư nợ tăng thêm đối với một số khoản cho vay nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất vào dư nợ bất động sản khi kiểm soát tăng trưởng tín dụng lĩnh vực này.
Cách tiếp cận này cho thấy sự phân hóa rõ hơn trong điều hành tín dụng. Không phải toàn bộ tín dụng bất động sản đều được khuyến khích mở rộng, nhưng những phân khúc gắn với nhà ở xã hội, sản xuất và phát triển khu công nghiệp được tạo thêm không gian. Đây có thể xem là một trong những biểu hiện rõ nhất của cách tiếp cận “mở room có chọn lọc”.
Tiếp đó, NHNN có chính sách loại trừ dư nợ phát sinh mới đối với một số dự án trọng điểm khỏi phạm vi tính toán tăng trưởng tín dụng của ngân hàng. Động thái này tiếp tục phản ánh cách điều hành ưu tiên các dự án có quy mô lớn và được kỳ vọng tạo hiệu ứng lan tỏa, thay vì mở rộng room theo hướng đồng loạt cho toàn bộ các lĩnh vực.
Một bước điều chỉnh quan trọng khác diễn ra trong tháng 5 và tháng 6, khi NHNN bắt đầu thay đổi một số quy định liên quan đến nguồn vốn và các tỷ lệ bảo đảm an toàn. Thông tư 08/2026/TT-NHNN cho phép tính một phần số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước (KBNN) vào mẫu số khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi, qua đó tạo thêm dư địa nhất định cho các ngân hàng trong cân đối nguồn vốn.
Đến tháng 6, Thông tư 25/2026/TT-NHNN tiếp tục tạo ra những thay đổi đáng chú ý. Theo đó, tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn được nâng từ 30% lên 40%. Đồng thời, Thông tư cũng trao cho Thống đốc NHNN quyền quyết định tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của KBNN được tính vào LDR theo từng thời kỳ.
Theo đánh giá của Vietcap, việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn sẽ giúp các ngân hàng nâng cao năng lực cung ứng vốn trong bối cảnh nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng và dự án quy mô lớn đang gia tăng. Chính sách cũng giúp giảm áp lực huy động nguồn vốn trung và dài hạn, vốn thường có chi phí cao hơn và khó huy động hơn trên thị trường Việt Nam.
Nguồn: Vietcap.
Một số ngân hàng có tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn sát mức trần cũ được dự báo hưởng lợi nhiều hơn. Trong khi đó, các ngân hàng quốc doanh cũng có thêm điều kiện để đẩy nhanh giải ngân các khoản vay trung và dài hạn, nhất là trong lĩnh vực hạ tầng. Tuy nhiên, việc mở rộng tỷ lệ này cũng đồng nghĩa rủi ro chênh lệch kỳ hạn trong hệ thống có thể gia tăng.
Cơ chế mới liên quan đến tiền gửi Kho bạc Nhà nước sau đó nhanh chóng được NHNN sử dụng. Ngày 30/7, nhà điều hành quyết định nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của KBNN được tính khi xác định LDR từ 20% lên 50%. Quyết định có hiệu lực từ ngày 1/8/2026 đến hết ngày 31/7/2028.
Về bản chất, đây không phải việc NHNN bơm thêm tiền vào nền kinh tế hay nới lỏng các chuẩn mực an toàn, mà là điều chỉnh cách phản ánh một nguồn vốn có tính ổn định tương đối cao. Việc nâng tỷ lệ được tính vào LDR được kỳ vọng giúp giảm áp lực thanh khoản, đặc biệt đối với nhóm ngân hàng quốc doanh, nơi tập trung phần lớn tiền gửi của KBNN.
Nguồn: SBV, WiData.
Theo nhận định của Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), việc tính thêm 50% lượng tiền gửi KBNN vào LDR có thể góp phần hạ nhiệt lãi suất trên thị trường 1, đặc biệt là lãi suất cho vay kỳ hạn ngắn. Tuy nhiên, tác động của chính sách cần thời gian để thẩm thấu, có thể khoảng 2-3 tháng. Đối với các khoản vay dài hạn, quá trình hạ nhiệt lãi suất có thể diễn ra chậm hơn.
Đáng chú ý, những điều chỉnh này diễn ra trong bối cảnh NHNN đang thu hẹp hỗ trợ thanh khoản trực tiếp qua kênh OMO. Trong tháng 7, lượng OMO lưu hành giảm từ gần 500.000 tỷ đồng xuống dưới 200.000 tỷ đồng. Theo VDSC, điều này đồng nghĩa hệ thống ngân hàng phải tự cân đối nguồn thanh khoản ngắn hạn nhiều hơn so với giai đoạn trước.
Tuy nhiên, lãi suất liên ngân hàng, đặc biệt ở kỳ hạn qua đêm, lại có xu hướng giảm, phản ánh thanh khoản ngắn hạn trên thị trường đang được cải thiện. VDSC lưu ý điều này chưa đồng nghĩa mặt bằng lãi suất huy động và cho vay sẽ giảm ngay lập tức, bởi nhu cầu cân đối nguồn vốn của từng ngân hàng vẫn là một yếu tố quan trọng.
Nhìn lại chuỗi chính sách từ đầu năm đến nay, ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi, cho rằng NHNN đang theo đuổi một định hướng khá nhất quán. Theo đó, nhà điều hành chủ động tạo thêm dư địa cho tín dụng và giảm chi phí vốn, nhưng theo hướng có trọng tâm, có điều kiện và gắn hỗ trợ tăng trưởng với ổn định kinh tế vĩ mô cũng như an toàn hệ thống.
“Điểm đáng chú ý là chính sách không chỉ tác động vào lượng vốn mà đồng thời xử lý cả giá vốn và hướng đi của vốn”, ông Nguyễn Quang Huy nhận định.
Vị chuyên gia cho rằng việc điều chỉnh một số tỷ lệ an toàn, tạo dư địa tín dụng có chọn lọc, thúc đẩy giảm lãi suất và triển khai các chương trình tín dụng cho doanh nghiệp vừa vả nhỏ, các động lực tăng trưởng cho thấy mục tiêu không đơn thuần là tăng tín dụng, mà quan trọng hơn là nâng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế và hướng nguồn lực tới khu vực có khả năng tạo sản lượng, việc làm và dòng tiền mới.
Quan điểm này cũng phần nào được thể hiện trong chính sách mới ban hành trong tháng 8, khi NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng xây dựng chương trình tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và các động lực tăng trưởng.
Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi. (Ảnh: NVCC).
Đáng chú ý, chương trình này gắn với yêu cầu lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất cho vay bình quân. Nhà điều hành đồng thời tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu giảm thực chất lãi suất, trong khi mức độ tuân thủ chủ trương giảm lãi suất sẽ được xem xét trong quá trình giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng thời gian tới.
Điều này cho thấy room tín dụng không còn đơn thuần là công cụ kiểm soát quy mô cho vay. Room đang dần được sử dụng như một công cụ định hướng hành vi của các ngân hàng, từ kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng đến yêu cầu giảm chi phí vốn và hướng dòng tiền vào các lĩnh vực ưu tiên.
Tuy nhiên, bài toán điều hành những tháng cuối năm được dự báo sẽ khó hơn. Theo UOB, dù áp lực lạm phát đã có dấu hiệu dịu bớt trong tháng 6, CPI bình quân 6 tháng đầu năm vẫn ở mức 4,38%. Trong khi đó, giá năng lượng, căng thẳng địa chính trị và chính sách thương mại toàn cầu vẫn là những biến số khó dự báo.
Trong bối cảnh đó, dư địa tiếp tục giảm lãi suất không còn quá lớn. Theo UOB, việc tăng lãi suất điều hành có thể không hiệu quả nếu áp lực lạm phát chủ yếu đến từ chi phí đầu vào và giá năng lượng. Ngược lại, giảm lãi suất cũng chưa có nhiều cơ sở khi lạm phát vẫn dao động quanh ngưỡng mục tiêu điều hành.
Vì vậy, UOB cho rằng kịch bản phù hợp là NHNN tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ ổn định trong thời gian còn lại của năm 2026. Tỷ giá cũng tiếp tục là một biến số quan trọng khi môi trường lãi suất quốc tế vẫn ở mức cao, trong khi việc mở rộng hỗ trợ thanh khoản hoặc thúc đẩy giảm mạnh lãi suất trong nước có thể tạo thêm áp lực lên thị trường ngoại hối.
Theo VDSC, hỗ trợ thanh khoản nhưng có cân nhắc về quy mô và tần suất là lựa chọn phù hợp để cân bằng các mục tiêu vĩ mô trong giai đoạn hiện nay. Đây cũng là thách thức lớn của nhà điều hành khi vừa phải đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, vừa tránh để thanh khoản dồi dào quá mức tạo ra những mất cân đối mới.
Theo ông Nguyễn Quang Huy, NHNN trong những tháng cuối năm sẽ phải đồng thời cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng, duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, ổn định tỷ giá và thanh khoản, kiểm soát lạm phát và bảo đảm chất lượng tín dụng. Vì vậy, dư địa chính sách cần được sử dụng đúng liều lượng, đúng thời điểm và đúng đối tượng.
Chuyên gia cho rằng tín dụng cần tiếp tục được khơi thông vào sản xuất - kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ, hạ tầng và các dự án có hiệu quả. Thay vì đặt nặng câu chuyện tín dụng tăng bao nhiêu, trọng tâm điều hành cần từng bước chuyển sang câu hỏi dòng vốn đi đâu và tạo ra giá trị gì.
Đây có lẽ cũng là thách thức lớn nhất của NHNN trong phần còn lại của năm 2026. Khi nền kinh tế đang cần vốn để duy trì đà tăng trưởng cao, việc tiếp tục “mở” thêm dư địa cho hệ thống ngân hàng sẽ cần đi cùng với sự thận trọng, để hỗ trợ tăng trưởng nhưng không tạo thêm áp lực quá lớn lên lạm phát, tỷ giá và sự an toàn của hệ thống tài chính.