2026 là năm bản lề khởi động chu kỳ chiến lược 2026 – 2030, đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc. Đất nước đang thực hiện cuộc chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ chưa từng có, không chỉ về số lượng mà tập trung cả về chiều sâu.
Kinh tế Việt Nam đứng trước vận hội lịch sử với mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng và chưa từng được đưa ra trước đây. Theo kế hoạch của Chính phủ, mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 đạt hơn 10%, chỉ số tiêu dùng dưới 4,5%, chỉ tiêu GDP bình quân/ người đạt 5.500 USD và tỷ trọng về công nghiệp cũng như lao động đều ở mức cao.
Theo số liệu chúng tôi thu thập được, trong 40 năm đổi mới đến nay, chỉ có hai năm Việt Nam tăng trưởng vượt 9% và có 6 năm tăng trưởng vượt 8%, tuy nhiên khi đó quy mô nền kinh tế còn nhỏ. Suốt một giai đoạn dài sau đó, chưa năm nào đạt hơn 8% tăng trưởng, trừ năm 2022 (sau điều chỉnh là 8,54%) khi kinh tế bật lại sau đại dịch.
Khoảng cách giữa kinh nghiệm và mục tiêu 10% là rất đáng kể, cho thấy đây là một mục tiêu to lớn và đầy thách thức.
Để đạt được mục tiêu đầy thách thức này, Chính phủ cũng đưa ra ba chiến lược gồm đột phá về thể chế, khung pháp lý; đột phá về phát triển nguồn nhân lực và khoa học công nghệ; đột phá về đầu tư hạ tầng.
Đột phá thể chế nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, giải phóng nguồn lực với trọng tâm là hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ, tinh gọn bộ máy và cải cách tiền lương để kiến tạo môi trường kinh doanh hiệu quả. Động lực tăng trưởng chuyển dịch mạnh mẽ sang khu vực tư nhân (mục tiêu đóng góp 65% GDP), song hành với tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và thu hút FDI chọn lọc.
Đáng chú ý, chiến lược này đề cao tính bền vững thông qua việc phát triển thị trường tài chính – chứng khoán lành mạnh và kiểm soát trần nợ công dưới 60% GDP, đảm bảo an toàn vĩ mô trong dài hạn.
Trong nhiệm kỳ, Quốc hội đã thông qua hơn 180 luật, nghị quyết; Chính phủ ban hành 820 nghị định, con số cao nhất từ trước đến nay. Nhiều tồn tại kéo dài nhiều năm đã được xử lý, trong đó có việc cơ cấu lại 5 ngân hàng yếu kém và tháo gỡ vướng mắc cho hàng nghìn dự án tồn đọng.
Bộ tứ Nghị quyết của Bộ chính trị cùng việc sửa đổi nhiều luật quan trọng như Luật đất đai, Luật Nhà ở, Luật kinh doanh bất động sản, cơ chế đặc thù cho TP HCM, Đà Nẵng,… đang tạo ra một hành lang pháp lý thông thoáng, nhất quán.
Bên cạnh đó, nền kinh tế buộc phải thực hiện cuộc "cách mạng" chuyển dịch trọng tâm từ thâm dụng tài nguyên sang thâm dụng tri thức. Động lực bứt phá không còn dựa trên lợi thế nhân công giá rẻ, mà được định vị lại hoàn toàn vào chất lượng nguồn nhân lực – nhân tố cốt lõi để làm chủ công nghệ và thúc đẩy hiệu suất.
Chiến lược hạ tầng 2030 được xác định là đột phá then chốt với 4 trụ cột: giao thông, năng lượng, hạ tầng số và phát triển vùng kinh tế. Với mục tiêu hoàn thiện 5.000km cao tốc, đường sắt tốc độ cao và cảng biển để tối ưu logistics; Xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia, đưa kinh tế số chiếm 30% GDP; Đảm bảo an ninh năng lượng xanh và lưới điện thông minh;...
Mục tiêu tăng trưởng hai con số trong 5 năm tới đặt ra yêu cầu huy động nguồn lực tài chính rất lớn từ đầu tư công, vốn đầu tư từ nước ngoài và vốn đầu tư tư nhân.
Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Thành Trung, để đạt được con số tăng trưởng này, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm cần đạt bình quân khoảng 40% GDP, tăng từ ngưỡng 32% GDP hiện tại. Ước tính với tỷ lệ này, con số đầu tư cần tăng thêm khoảng 250 - 350 tỷ USD so với giai đoạn trước.
Trong năm 2026, Bộ Tài chính ước tính tổng mức vốn cân đối chi đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước có thể đạt 1,12 triệu tỷ đồng (42 tỷ USD), tăng 30% so với năm 2025, trong đó chi đầu tư công 1,08 triệu tỷ đồng và chi đầu tư phát triển khác khoảng 40.000 tỷ đồng. Đây là con số kỷ lục được kỳ vọng sẽ hỗ trợ giữ nhịp tăng trưởng.
Nhận định về dư địa phát triển những kênh vốn này, ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế trưởng ADB, cho rằng ở thời điểm hiện tại, Việt Nam vẫn đang duy trì được sức hấp dẫn tương đối tốt đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Với kênh đầu tư công, nước ta đang có dư địa để tăng thêm quy mô huy động khi tỷ lệ nợ công trên GDP chỉ khoảng 34%, trong khi trần nợ công do Chính phủ đặt ra và được Quốc hội phê duyệt là 60% GDP.
Còn đối với nguồn vốn đầu tư tư nhân trong nước, ông cho rằng đây là khu vực tương đối yếu và cần được thúc đẩy mạnh mẽ hơn trong thời gian tới. “Đây chính là phần còn thiếu trong bức tranh tổng thể về đầu tư cho tăng trưởng”, ông Hùng chia sẻ.
Tuy nhiên, theo ông vấn đề quan trọng hơn không chỉ nằm ở việc huy động được bao nhiêu vốn, mà là hiệu quả sử dụng nguồn vốn. Nếu các dự án đầu tư công được triển khai nhanh, được đưa vào vận hành đúng tiến độ, thì những lợi ích về kinh tế - xã hội sẽ được hiện thực hóa sớm hơn, tạo tác động lan tỏa rõ rệt hơn cho nền kinh tế. Điều này đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ từ khâu chuẩn bị dự án, lựa chọn dự án, đến tổ chức thực hiện và giám sát.
Trong năm 2025, hàng trăm dự án trọng điểm đồng loạt khởi công, khánh thành, tổng vốn lên tới hơn 5,1 triệu tỷ đồng, đã tạo "cú hích" mạnh mẽ đối với nền kinh tế Việt Nam. Các dự án trải rộng trên nhiều lĩnh vực, từ giao thông, năng lượng, hạ tầng đô thị đến y tế, giáo dục, trong đó hạ tầng giao thông tiếp tục giữ vai trò xương sống. Những cái tên tiêu biểu như Sân bay Long Thành, Sân bay Gia Bình, loạt metro kết nối các khu vực,... hứa hẹn sẽ góp phần không nhỏ vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong các năm tiếp theo.
Ngoài ra, việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) và thí điểm các sàn giao dịch tài sản mã hoá cũng sẽ là cơ hội để thu hút thêm dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Tăng trưởng tín dụng góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2025 và được dự báo sẽ tiếp tục là động lực lớn cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số giai đoạn 5 năm tiếp theo. Tuy nhiên, một hệ thống tài chính phụ thuộc quá nhiều vào ngân hàng sẽ tiềm ẩn rủi ro.
Theo ước tính của đại diện NHNN, với tốc độ tăng trưởng hiện tại, con số tăng trưởng tín dụng cả năm 2025 toàn ngành có thể đạt 19%, mức tăng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Điều đó kéo theo hệ số tín dụng/GDP sẽ tăng lên khoảng 146%, là mức cao nhất trong các nước có thu nhập trung bình thấp như Việt Nam.
Nếu con số này tiếp tục tăng sẽ gây rủi ro cho hệ thống ngân hàng và gây hệ lụy cho nền kinh tế, khó đạt mục tiêu vừa tăng trưởng kinh tế cao, vừa bền vững.
Trong khi đó, hệ thống ngân hàng Việt đang trong tình trạng mất cân đối kỳ hạn vốn. Hiện khoảng 80% vốn huy động được là ngắn hạn trong khi 50% vốn cho vay lại là trung và dài hạn.
Cùng với đó, tốc độ tăng trưởng huy động hiện nay thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng tín dụng. Tính đến 24/12, tốc độ tăng trưởng huy động vốn toàn hệ thống đạt 14,11% trong khi tín dụng tăng 17,87%, mức chênh lệch này tạo áp lực không nhỏ lên thanh khoản hệ thống.
Nếu tăng trưởng tiếp tục dựa chủ yếu vào tín dụng, rủi ro đối với hệ thống ngân hàng sẽ ngày càng gia tăng. Áp lực nợ xấu, thanh khoản và chi phí vốn có thể quay trở lại nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh trong khi thị trường vốn phát triển chưa tương xứng. Bên cạnh đó, việc mở rộng tiền tệ cũng đang thúc đẩy bong bóng bất động sản và chứng khoán.
Giải pháp được các tổ chức kinh tế thế giới, NHNN và các chuyên gia kinh tế đưa ra là vấn đề cấp thiết của việc phát triển đồng bộ thị trường vốn gồm thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu và các dòng vốn quốc tế, tạo nên một cấu trúc vốn cân bằng, cạnh tranh và hỗ trợ lẫn nhau.
Các thị trường vốn này cần trở thành trụ cột huy động nguồn lực trung và dài hạn, từng bước giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Cùng với đó, để đảm bảo tăng trưởng bền vững cần chuyển dịch cơ cấu đầu tư, tập trung nhiều hơn vào sản xuất - kinh doanh thay vì các lĩnh vực mang tính đầu cơ.
Trên thực tế, thị trường tài chính của Việt Nam vẫn còn non trẻ. Ngoài ngân hàng, các yếu tố chính bao gồm trái phiếu, cổ phiếu và bảo hiểm chưa thực sự phát triển tương xứng với tiềm năng.
Đặc biệt, thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã tăng trưởng nhanh chóng trong giai đoạn 2018–2022, nhưng diễn ra trong bối cảnh thiếu các quy định chặt chẽ và chưa có hệ thống xếp hạng tín nhiệm độc lập, dẫn đến nhiều rủi ro và biến động.
Tính đến ngày 30/11/2025, quy mô thị trường chứng khoán mới đạt khoảng 81,9% GDP, còn khá xa mục tiêu 100% GDP. Thị trường trái phiếu – một kênh huy động vốn quan trọng với chi phí thấp hơn nếu được phát triển tốt – hiện cũng chỉ tương đương khoảng 23,1% GDP, thấp hơn nhiều so với mục tiêu 47% GDP và mặt bằng chung của nhiều quốc gia.
Theo ông Nguyễn Đức Hiển - Phó trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, nhiều vấn đề cần sớm thay đổi để phát triển thị trường vốn Việt Nam.
Trước hết, thị trường phải có “hàng hóa”. Với những doanh nghiệp chưa đủ điều kiện niêm yết, trái phiếu là công cụ huy động vốn rất quan trọng, nhưng cần gắn với tài sản bảo đảm. Trường hợp không có tài sản bảo đảm, việc phát hành cần đi kèm xếp hạng tín nhiệm và cơ chế giám sát của các hiệp hội.
Ông Nguyễn Đức Hiển - Phó trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương.
Đối với thị trường cổ phiếu, đã đến lúc cần xem xét lại các quy định về sở hữu nước ngoài. Ngay cả với các ngân hàng lớn như nhóm Big4, câu hỏi đặt ra là có cần tiếp tục duy trì tỷ lệ sở hữu nhà nước cao như hiện nay hay không, cũng như việc điều chỉnh giới hạn sở hữu nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam theo hướng nào cho phù hợp.
Về quy định IPO và niêm yết, dù đã có những điều chỉnh nhất định, nhưng trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi, các quy định này vẫn cần tiếp tục được rà soát và cải cách mạnh mẽ hơn.
Để trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, Việt Nam cần tăng trưởng cao liên tục trong thời gian dài. Tuy nhiên, một quốc gia không thể duy trì tăng trưởng GDP mãi ở mức trên 10% bởi quy mô càng lớn thì % tăng trưởng càng khó duy trì cao.
Thực tế cho thấy mô hình tăng trưởng được thúc đẩy bởi tín dụng ngân hàng, đầu tư công và xuất khẩu đang cho thấy những dấu hiệu hụt hơi, đòi hỏi sự điều chỉnh chiến lược để đảm bảo phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
Theo TS. Cấn Văn Lực, để đạt mục tiêu nói trên, Việt Nam không thể tiếp tục đi theo lối mòn tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn và lao động, mà phải dịch chuyển sang dựa vào năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), cải cách thể chế và khoa học công nghệ. Ông cho rằng cần tăng mức đóng góp của yếu tố TFP lên 53% trong mức tăng trưởng GDP của nền kinh tế.
Tuy nhiên, chuyên gia cũng thẳng thắn chỉ ra những điểm yếu mang tính cấu trúc của nền kinh tế, bao gồm mức độ phụ thuộc lớn vào xuất khẩu và đầu tư nước ngoài, tỷ lệ nội địa hóa chỉ khoảng 37%, cùng nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình khi năng lực cạnh tranh chưa có đột phá thực chất.
Xuất khẩu của Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), khu vực chiếm tới 78% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cho thấy vai trò hạn chế của các doanh nghiệp trong nước trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Sự phụ thuộc vào vốn bên ngoài và các yếu tố đầu vào nhập khẩu khiến doanh nghiệp Việt Nam dễ bị tổn thương trước những gián đoạn của chuỗi cung ứng toàn cầu và các rủi ro địa chính trị.
Đồng thời, khi nền kinh tế quá phụ thuộc vào vốn đầu tư và xuất khẩu, nhưng không đi kèm với cải thiện năng suất, kiểm soát lạm phát hay bảo vệ môi trường, thì nguy cơ rơi vào “bẫy phát triển” là hiện hữu: Thu nhập tăng nhưng chất lượng tăng trưởng suy giảm, nền tảng vĩ mô thiếu ổn định và các vấn đề xã hội xuất hiện.
Do đó, việc nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp vừa, là yêu cầu cấp thiết để đảm bảo tính tự chủ và phát triển bền vững, hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao một cách thực chất.
Những bài toán lớn của nền kinh tế Việt Nam đã được nhận diện và đều đang trong quá trình tháo gỡ dần dần, từng bước để hướng đến một năm 2026 tăng trưởng vượt bậc.
Cùng đón chờ sự vận hành của nền kinh tế và những đổi thay trong năm 2026!
Thông tin thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất sẽ không còn được ghi trực tiếp trên sổ đỏ mà được cập nhật vào cơ sở dữ liệu đất đai.
Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính cấp phép cho các doanh nghiệp tham gia thí điểm thị trường tài sản mã hóa (Sandbox) theo quy định trước ngày 15/1.
Năm 2026, TP. Hồ Chí Minh xây dựng kịch bản tăng trưởng GRDP trên 10%, kỳ vọng cơ chế đặc thù theo Nghị quyết 98 (sửa đổi) sớm phát huy hiệu quả, tạo đà cho giai đoạn 2026–2030.
Tại Hội nghị tổng kết Bộ Tài chính, Việt Nam đạt mốc đầu tư cao nhất từ trước đến nay, hướng đến mục tiêu tăng trưởng GDP 2026 trên 10%, trong bối cảnh thách thức kinh tế toàn cầu.