Trong giai đoạn 2021–2025, cán cân thương mại hàng hóa đều ghi nhận thặng dư, trong đó năm 2023 xuất siêu hơn 28 tỷ USD, năm 2024 trên 24 tỷ USD và năm 2025 tiếp tục đạt mức trên 20 tỷ USD.
Tuy nhiên, trong gần 7 tháng đầu năm, cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam đều ghi nhận trạng thái nhập siêu. Cụ thể, tháng 1 khoảng 1,78 tỷ USD, tháng 2 là 1,01 tỷ USD; tháng 3 là 0,68 tỷ USD; tháng 4 là 3,99 tỷ USD, tháng 5 là 5,21 tỷ USD, tháng 6 là 2,67 tỷ USD và nửa đầu tháng 7 là 6,64. Nâng tổng mức nhập siêu lên 20,46 tỷ USD.
Theo TS. Nguyễn Quốc Việt, giảng viên Khoa Kinh tế Phát triển, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), việc cán cân thương mại chuyển từ xuất siêu sang nhập siêu trong hơn nửa đầu năm chưa phải là tín hiệu đáng lo ngại, bởi xu hướng này chủ yếu phản ánh nhu cầu nhập khẩu gia tăng để phục vụ đầu tư và mở rộng sản xuất.
Dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) giải ngân mạnh đã kéo theo nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị để mở rộng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp này. Cùng với đó, nhiều dự án đầu tư công bước vào giai đoạn thi công cao điểm sau khi hoàn tất giải phóng mặt bằng cũng làm gia tăng nhập khẩu thiết bị, vật tư.
Bên cạnh đó, để đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu, doanh nghiệp đẩy mạnh nhập khẩu nguyên vật liệu và hàng hóa trung gian. Đây là đặc điểm phổ biến của các ngành xuất khẩu chủ lực như điện tử, công nghệ cao, bán dẫn hay trí AI, vốn vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn linh kiện và đầu vào nhập khẩu.
"Tôi kỳ vọng khi kim ngạch xuất khẩu tăng tốc trong nửa cuối năm, cán cân thương mại hàng hóa sẽ dần cân bằng trở lại", TS. Nguyễn Quốc Việt nhận định.
Tuy nhiên, theo ông Việt, khi đánh giá cán cân thương mại không nên chỉ nhìn vào giá trị nhập siêu hay xuất siêu tuyệt đối mà cần xem xét tương quan giữa giá xuất khẩu và giá nhập khẩu.
Theo đó, từ năm 2024 đến nay, khoảng cách giữa giá trị xuất siêu và nhập siêu ngày càng thu hẹp do chi phí nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện và thiết bị đầu vào tăng nhanh dưới tác động của biến động địa chính trị, căng thẳng thương mại và đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trong khi đó, nhu cầu thế giới phục hồi chậm, cùng áp lực lạm phát tại nhiều nền kinh tế, khiến giá bán hàng xuất khẩu của Việt Nam tăng chậm hơn nhiều so với tốc độ tăng của chi phí đầu vào nhập khẩu. Đồng nghĩa, doanh nghiệp phải bỏ ra nhiều chi phí nhập khẩu hơn để tạo ra cùng một giá trị xuất khẩu.
"Khi chi phí đầu vào tăng nhanh hơn giá bán sản phẩm, phần giá trị gia tăng mà nền kinh tế giữ lại sẽ ngày càng thu hẹp", TS. Nguyễn Quốc Việt nhấn mạnh.
TS. Nguyễn Quốc Việt, giảng viên Khoa Kinh tế Phát triển, Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN. (Ảnh: N.N).
Để cải thiện tình trạng này, ông Việt cho rằng Việt Nam cần chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào gia công, lắp ráp và lao động chi phí thấp sang nâng cao giá trị gia tăng nội địa. Đây cũng là hướng đi mà nhiều quốc gia trong khu vực đang theo đuổi nhằm tăng sức chống chịu trước biến động của thương mại toàn cầu.
Trước hết, cần nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng tỷ lệ nội địa hóa để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Khi doanh nghiệp trong nước có thể sản xuất được nhiều linh kiện, nguyên vật liệu và đầu vào hơn, mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu sẽ giảm, qua đó nâng cao giá trị giữ lại trong nền kinh tế.
Bên cạnh đó, giải pháp quan trọng hơn là gia tăng hàm lượng số trong sản phẩm. Nghị quyết 57 và các mô hình tăng trưởng mới đều nhấn mạnh vai trò của kinh tế số, song điều cốt lõi không chỉ là quy mô của kinh tế số mà là khả năng lan tỏa của công nghệ số vào các ngành sản xuất.
"Việc tích hợp các dịch vụ số, dữ liệu và công nghệ số vào nông nghiệp, công nghiệp chế biến, chế tạo sẽ giúp nâng cao giá trị gia tăng, cải thiện năng lực cạnh tranh và tăng giá trị xuất khẩu so với phần đầu vào phải nhập khẩu", ông Việt đánh giá.
Còn theo PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, Giảng viên Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, cơ hội đưa cán cân thương mại trở lại trạng thái xuất siêu vẫn hiện hữu.
Tuy nhiên, điều quan trọng là phải có các giải pháp điều hành phù hợp để kiểm soát chi phí nhập khẩu. Theo đó, cần theo dõi chặt chẽ diễn biến giá năng lượng và có phương án sử dụng hiệu quả hơn nhằm hạn chế tác động đến kim ngạch nhập khẩu.
PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, Giảng viên Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. (Ảnh: N.N).
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và nguyên vật liệu, đổi mới mô hình sản xuất, kinh doanh theo hướng tiết kiệm chi phí. Việc cắt giảm chi phí logistics, chi phí trung gian, chi phí quản lý và chi phí hành chính sẽ giúp giảm áp lực nhập khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo dư địa để cải thiện cán cân thương mại trong những tháng cuối năm.
Đồng thời, doanh nghiệp cần chủ động cơ cấu lại thị trường nhập khẩu, tận dụng tối đa các hiệp định thương mại tự do để nhập khẩu từ những thị trường được hưởng ưu đãi thuế quan, qua đó giảm chi phí đầu vào.
Ngoài ra, một trong những giải pháp quan trọng để bù đắp cho cán cân thương mại hàng hóa là thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ. Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa phát triển các lĩnh vực như dịch vụ tài chính, logistics, vận tải, du lịch và viễn thông.
"Nếu các ngành này tăng trưởng mạnh, nguồn thu từ xuất khẩu dịch vụ sẽ góp phần thu hẹp thâm hụt thương mại trong trường hợp nhập siêu kéo dài", ông Lạng khẳng định.
Vingroup cho hay, sân vận động VinFast sẽ truyền tải tới thế giới hình ảnh một Việt Nam mới hiện đại và năng động, đồng thời góp phần quảng bá rộng rãi cho thương hiệu Việt vươn cao và vươn xa ra quốc tế.
Phó thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đề nghị áp dụng cơ chế đặc biệt theo hướng khẩn cấp để triển khai tuyến metro kéo dài từ Bến Thành - Suối Tiên đến trung tâm hành chính TP Đồng Nai và sân bay Long Thành.
Chủ tịch Hiệp hội bán dẫn Đông Nam Á, đánh giá Việt Nam đang nổi lên là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất của ngành bán dẫn tại Đông Nam Á nhờ sở hữu lực lượng lao động trẻ, giàu tiềm năng, vị trí địa lý thuận lợi cùng khát vọng mạnh mẽ về phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo các nhà phân tích từ Công ty Chứng khoán Vietcap, mặc dù Mỹ áp thuế 12,5% với Việt Nam song tỷ trọng hàng hóa xuất khẩu được miễn thuế lại tăng từ 34% lên hơn 40%, do nhóm điện tử và máy móc là hai mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam được miễn thuế theo mục 122.