Diễn đàn thường niên về Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam lần thứ nhất. (Ảnh: Nguyễn Ngọc)
Tại Diễn đàn thường niên về Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam lần thứ nhất chiều ngày 12/1 tại Hà Nội, TS. Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính, Bộ Tài chính đánh giá, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam tháng 12/2025 đã tăng 3,48% so với cùng kỳ năm 2024, trung bình tăng 0,29%/tháng.
Tính trung bình cả năm, CPI tăng 3,31%, cao hơn mức trung bình của giai đoạn 2016-2025 là 3,09%. Như vậy, đây là năm thứ 11 liên tiếp, Việt Nam thành công trong việc kiểm soát lạm phát ở mức dưới 4%. Hơn nữa, nếu tính trong 10 năm gần đây lạm phát khá ổn định.
Tốc độ tăng CPI bình quân hàng năm tại Việt Nam (2016-2025). (Nguồn: Cục Thống kê, Bộ Tài chính)
Phân tích cụ thể, theo ông Độ, trong năm 2025 áp lực lạm phát chủ yếu đến các yếu tố như tăng trưởng tín dụng cao, đạt 17,65%, và tỷ giá tăng 3,92%. Bên cạnh đó, tiêu dùng phục hồi cũng khiến áp lực tăng CPI lớn hơn.
Ngoài ra, việc điều chỉnh giá điện, giá dịch vụ y tế cũng góp phần vào mức tăng của CPI. Theo tính toán của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, mức tăng 13,07% của nhóm thuốc và dịch vụ y tế đóng góp 0,61 điểm phần trăm vào mức tăng chung của CPI.
Tuy vậy, tốc độ tăng CPI bình quân năm 2025 vẫn thấp hơn mức 3,63% của năm 2024. Nếu trừ đi tác động từ giá thuốc và dịch vụ y tế, có thể thấy rằng áp lực lạm phát không quá lớn.
Một trong những nguyên nhân chính là do giá nhiều hàng hóa cơ bản trên thế giới như dầu thô, sắt thép, gạo …có xu hướng giảm và trung hòa tác động tăng CPI của tỷ giá. Hơn nữa, các tác động từ tín dụng, tỷ giá thường có độ trễ. Chưa kể, một phần không nhỏ của tăng trưởng tín dụng chảy vào thị trường tài sản, điển hình là thị trường bất động sản.
"Điều này dẫn đến hệ quả là tăng trưởng tín dụng cao tác động chủ yếu đến giá tài sản, còn tác động đến CPI không quá lớn", ông Độ nêu rõ.
Trong năm 2026, ông Độ dự báo áp lực lạm phát tiếp tục đến từ tác động trễ của tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, do mức tăng của tín dụng trong năm 2025 không quá cao so với lịch sử 10 năm trở lại đây, nên tác động đến lạm phát có thể không quá lớn, khi một phần không nhỏ chảy vào thị trường tài sản.
Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trong năm 2026 cũng tạo sức ép lên giá cả, bởi tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) cao đồng nghĩa với việc tổng cầu, bao gồm đầu tư và tiêu dùng, đều phải mạnh.
Tỷ giá được dự báo cũng sẽ tiếp tục tác động lên CPI trong năm 2026. Bên cạnh tác động trễ từ năm 2025, áp lực tỷ giá trong năm 2026 được dự báo sẽ đến từ việc đẩy mạnh đầu tư và tiêu dùng, dẫn đến nhập khẩu tăng theo, trong khi tăng trưởng xuất khẩu trong năm 2026 gặp thách thức từ tăng trưởng chậm của kinh tế thế giới.
Ở chiều ngược lại, áp lực đối với lạm phát từ giá hàng hóa cơ bản trên thế giới, theo chuyên gia là không quá lớn. Với việc kinh tế thế giới được dự báo tăng trưởng không cao, giá hàng hóa sẽ khó tăng mạnh trong năm 2026, mặc dù dư địa giảm không còn nhiều sau khi giảm mạnh trong năm 2025.
Trong năm 2025, lãi suất có xu hướng tăng nhẹ do tăng trưởng tín dụng cao hơn so với tăng trưởng huy động. Xu hướng này được dự báo sẽ tiếp tục trong năm 2026 và có tác động kiềm chế lạm phát.
"Áp lực lạm phát trong năm 2026 sẽ cao hơn so với năm 2025, nhưng không nhiều. Tốc độ tăng CPI hàng tháng được dự báo vào khoảng 0,3%/tháng và lạm phát trung bình cả năm 2026 sẽ xoay quanh mức 3,5%", ông Độ dự báo.
Lạm phát so với cùng kỳ và đường trung bình động 12 tháng, đơn vị %. (Nguồn: Cục Thống kê và dự báo của Viện Kinh tế - Tài chính)
Mặc dù áp lực lạm phát trong năm 2026 không quá cao, nhưng ông Độ lưu ý việc thận trọng là cần thiết, bởi áp lực đối với lạm phát từ các yếu tố tiền tệ có thể tích tụ, nếu tăng trưởng tín dụng cao được duy trì trong thời gian dài.
Trong thời gian tới, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cao, đồng thời duy trì lạm phát dưới mức mục tiêu 4-4,5%, ông Độ cho rằng cần có sự phân công và phối hợp hiệu quả giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.
Do tỷ lệ tín dụng GDP năm 2025 đã ở mức 146%, thuộc hàng cao so với các nước phát triển cùng trình độ, chính sách tiền tệ nên hướng đến mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, bao gồm kiểm soát lạm phát, ổn định lãi suất và tỷ giá, khống chế nợ xấu và đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Để đạt được mục tiêu này, tốc độ tăng trưởng cung tiền và tín dụng cần được kiểm soát ở mức hợp lý, không để tỷ lệ tín dụng/GDP tăng nhanh và mạnh, vừa tạo áp lực lên giá cả, đồng thời làm tăng rủi ro nợ xấu.
Chính sách tài khóa, do còn dư địa, nên trong thời gian tới có thể hướng tới mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, cần tăng tốc giải ngân dầu tư công. Hơn nữa, mặc dù tỷ lệ nợ công/GDP còn thấp (khoảng 34% và thấp hơn nhiều so với mức trần 60%), vẫn cần kiểm soát quy mô trả nợ gốc và lãi hàng năm so với thu NSNN ở mức dưới 25% để đảm bảo an toàn tài khóa, nhất là khi lãi suất đang có xu hướng tăng.
"Trong dài hạn, tăng trưởng cao không thể dựa vào tăng trưởng cung tiền và tín dụng, mà chỉ có thể đạt được nhờ tăng năng suất lao động trên nền tảng công nghệ", ông Độ khuyến nghị.
Ban Quản lý dự án Thăng Long (Bộ Xây dựng) được giao làm chủ đầu tư lập Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc Nam, thay cho Ban Quản lý dự án Đường sắt.
Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hoà Bình hoan nghênh kế hoạch khởi công trụ sở của UOB trong Trung tâm tài chính quốc tế tại TP HCM, đồng thời kêu gọi các doanh nghiệp, ngân hàng và quỹ tài chính Singapore đẩy mạnh đầu tư, hoạt động tại Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam.
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị làm rõ cơ quan chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước sau vụ Đồ hộp Hạ Long dùng thịt lợn nhiễm dịch tả châu Phi sản xuất pate.
Trong quý III/2026, Thanh tra Chính phủ dự kiến tiến hành thanh tra việc chấp hành pháp luật về an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và tài nguyên nước đối với ba doanh nghiệp lớn trong ngành chăn nuôi.