|
Vàng miếng SJC |
Khu vực |
Phiên ngày 10/1 |
Phiên ngày 5/1 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
157,80 |
159,80 |
154,20 |
156,20 |
+3.600 |
+3.600 |
|
Hệ thống Doji |
Hà Nội |
157,80 |
159,80 |
154,20 |
156,20 |
+3.600 |
+3.600 |
|
TP HCM |
157,80 |
159,80 |
154,20 |
156,20 |
+3.600 |
+3.600 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
157,30 |
159,80 |
153,70 |
156,20 |
+3.600 |
+3.600 |
|
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
TP HCM |
157,80 |
159,80 |
154,20 |
156,20 |
+3.600 |
+3.600 |
|
Hà Nội |
157,80 |
159,80 |
154,20 |
156,20 |
+3.600 |
+3.600 |
|
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
157,80 |
159,80 |
154,20 |
156,20 |
+3.600 |
+3.600 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
158,30 |
159,80 |
155,00 |
156,20 |
+3.600 |
+3.600 |
Vàng miếng tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Sau giai đoạn điều chỉnh trong tuần trước đó, giá vàng miếng SJC trong tuần qua đã nhanh chóng lấy lại đà tăng khi các doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn đồng loạt nâng giá mạnh.
Trong khoảng thời gian từ ngày 5/1 đến 10/1, Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC), Tập đoàn Doji, Tập đoàn Phú Quý, hệ thống PNJ, Bảo Tín Minh Châu và Mi Hồng cùng điều chỉnh tăng giá vàng miếng SJC tới 3,6 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra.
Sau các đợt điều chỉnh, giá bán vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp đồng loạt vươn lên mức 159,8 triệu đồng/lượng, đánh dấu mức cao nhất trong lịch sử thị trường vàng trong nước.
|
Vàng nhẫn tròn trơn |
Phiên ngày 10/1 |
Phiên ngày 5/1 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
|
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
|||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
154,30 |
156,80 |
149,10 |
152,10 |
+5.200 |
+4.700 |
|
Tập đoàn Doji |
154,50 |
157,50 |
151,00 |
154,00 |
+3.500 |
+3.500 |
|
Tập đoàn Phú Quý |
155,00 |
158,00 |
151,70 |
154,70 |
+3.300 |
+3.300 |
|
Vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
155,00 |
158,00 |
151,00 |
154,00 |
+4.000 |
+4.000 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
156,80 |
159,80 |
153,70 |
156,70 |
+3.100 |
+3.100 |
Vàng nhẫn trơn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Không nằm ngoài xu hướng chung, phân khúc vàng nhẫn tròn trơn trong tuần qua cũng ghi nhận đà tăng mạnh tại tất cả các thương hiệu lớn, qua đó chính thức xác lập mặt bằng giá mới.
Tại Công ty SJC, giá vàng nhẫn tròn trơn được điều chỉnh tăng mạnh nhất thị trường, với mức tăng 5,2 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 4,7 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra.
Trong khi đó, Tập đoàn Doji nâng giá vàng nhẫn trơn thêm 3,5 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch.
Tập đoàn Phú Quý điều chỉnh tăng 3,3 triệu đồng/lượng mỗi chiều.
Tại hệ thống PNJ, giá vàng nhẫn trơn tăng 4 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua và bán.
Đáng chú ý, Bảo Tín Minh Châu ghi nhận mức tăng 3,1 triệu đồng/lượng cho cả hai chiều giao dịch, đưa giá mua – bán vàng nhẫn tròn trơn lên 156,8 – 159,8 triệu đồng/lượng, mức cao nhất từ trước đến nay.
Ảnh minh hoạ: Du Y.
|
Vàng nữ trang 24K |
Khu vực |
Phiên ngày 10/1 |
Phiên ngày 5/1 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
152,80 |
155,80 |
147,60 |
151,10 |
+5.200 |
+4.700 |
|
Tập đoàn Doji |
Hà Nội |
153,00 |
157,00 |
149,20 |
153,20 |
+3.800 |
+3.800 |
|
TP HCM |
153,00 |
157,00 |
149,20 |
153,20 |
+3.800 |
+3.800 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
154,50 |
157,50 |
150,40 |
154,40 |
+4.100 |
+3.100 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
153,00 |
157,00 |
149,50 |
153,50 |
+3.500 |
+3.500 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
153,80 |
157,30 |
150,70 |
154,20 |
+3.100 |
+3.100 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
158,30 |
159,80 |
155,00 |
156,20 |
+3.300 |
+3.600 |
Vàng 24K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Cùng chiều đi lên của vàng miếng và vàng nhẫn, thị trường vàng nữ trang 24K trong tuần qua cũng chứng kiến đợt điều chỉnh tăng mạnh, với biên độ phổ biến từ 3,1 – 5,2 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Tại Công ty SJC, giá vàng nữ trang 24K tăng mạnh nhất thị trường, lên tới 5,2 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 4,7 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra.
Tập đoàn Doji điều chỉnh tăng đồng thời 3,8 triệu đồng/lượng cho cả giá mua và bán.
Tại Tập đoàn Phú Quý, giá mua vào tăng 4,1 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra tăng 3,1 triệu đồng/lượng.
Hệ thống PNJ nâng giá vàng nữ trang 24K thêm 3,5 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch.
Trong khi đó, Bảo Tín Minh Châu ghi nhận mức tăng 3,1 triệu đồng/lượng cho cả giá mua và bán.
Riêng tại Mi Hồng, giá mua vào tăng 3,3 triệu đồng/lượng, còn giá bán ra tăng 3,6 triệu đồng/lượng.
|
Vàng nữ trang 18K |
Khu vực |
Phiên ngày 10/1 |
Phiên ngày 5/1 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
108,51 |
117,01 |
104,99 |
113,49 |
+3.530 |
+3.530 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
108,85 |
117,75 |
106,23 |
115,13 |
+2.620 |
+2.620 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
106,00 |
111,00 |
107,00 |
112,00 |
-1.000 |
-1.000 |
Vàng 18K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Trái ngược với đà tăng mạnh của các phân khúc trên, giá vàng nữ trang 18K trong tuần qua ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các doanh nghiệp.
Tại Công ty SJC, giá vàng 18K được điều chỉnh tăng mạnh 3,53 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch.
Hệ thống PNJ cũng nâng giá mua vào và bán ra thêm 2,62 triệu đồng/lượng.
Ở chiều ngược lại, hệ thống Mi Hồng điều chỉnh giảm giá vàng nữ trang 18K 1 triệu đồng/lượng mỗi chiều, đi ngược xu hướng chung của thị trường.
Khép lại tuần giao dịch từ ngày 5/1 đến 10/1, thị trường vàng trong nước ghi nhận biến động mạnh trên diện rộng, với mặt bằng giá mới được thiết lập ở nhiều phân khúc. Trong đó, vàng miếng SJC và vàng nhẫn tròn trơn tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt xu hướng, trong khi giá vàng nữ trang ghi nhận sự phân hóa rõ nét giữa các dòng sản phẩm và doanh nghiệp kinh doanh.
Trong tuần qua, giá tiêu tăng ở cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Sản lượng năm nay của Việt Nam dự kiến vào khoảng 180 nghìn tấn, gần tương đương năm ngoái. Tuy nhiên, lượng tồn kho chuyển sang năm nay đã giảm mạnh hơn.
Giá cà phê trong nước giảm 700 – 1.000 đồng/kg trong tuần qua, xuống còn 97.200 – 97.800 đồng/kg. Hoạt động giao dịch nhìn chung vẫn trầm lắng khi nông dân trì hoãn việc hán hàng với kỳ vọng giá cả sẽ tốt hơn, ngay cả khi nhu cầu tăng lên khi các nhà xuất khẩu đang gấp rút đáp ứng nghĩa vụ giao hàng.
Ông Quách Văn Cần - Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Thuận Nghĩa ở xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai cho biết: Tuy đang nằm trong thời gian làm đất, xuống giống vụ rau Tết truyền thống nhưng hiện nay hầu như toàn bộ vụ rau tết của người dân làng rau nổi tiếng Thuận Nghĩa hầu như đã được các thương lái, hợp tác xã trong và ngoài tỉnh đặt mua hết.
11 tháng năm 2025, rau quả Việt tăng trưởng mạnh nhất trong top 10 nguồn cung cho Trung Quốc, chỉ xếp sau Thái Lan.