|
Vàng miếng SJC |
Khu vực |
Phiên ngày 14/9 |
Phiên ngày 12/9 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
143,20 |
146,20 |
143,00 |
146,00 |
+200 |
+200 |
|
Hệ thống Doji |
Hà Nội |
143,20 |
146,20 |
143,00 |
146,00 |
+200 |
+200 |
|
TP HCM |
143,20 |
146,20 |
143,00 |
146,00 |
+200 |
+200 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
143,20 |
146,20 |
143,00 |
146,00 |
+200 |
+200 |
|
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
TP HCM |
143,20 |
146,20 |
143,00 |
146,00 |
+200 |
+200 |
|
Hà Nội |
143,20 |
146,20 |
143,00 |
146,00 |
+200 |
+200 |
|
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
143,00 |
146,20 |
142,90 |
146,90 |
+100 |
-700 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
144,00 |
145,50 |
144,50 |
146,00 |
-500 |
-500 |
Vàng miếng tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Giá vàng miếng SJC phiên 14/9 nghiêng về xu hướng đi lên khi phần lớn doanh nghiệp tăng 200.000 đồng/lượng, nhưng thị trường vẫn xuất hiện những nhịp giảm trái chiều khá mạnh tại Bảo Tín Minh Châu và Mi Hồng.
Tại Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn, giá vàng miếng tăng 200.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, nâng mức mua vào lên 143,2 triệu đồng/lượng và bán ra 146,2 triệu đồng/lượng.
Hệ thống DOJI tại Hà Nội và TP HCM cùng cộng thêm 200.000 đồng/lượng, hiện niêm yết đồng loạt ở 143,2 triệu đồng/lượng mua vào và 146,2 triệu đồng/lượng bán ra.
Tập đoàn Phú Quý cũng nối nhịp tăng, điều chỉnh thêm 200.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, đưa giá lên tương ứng 143,2 triệu đồng/lượng và 146,2 triệu đồng/lượng.
Tại PNJ, cả thị trường Hà Nội và TP HCM cùng tăng 200.000 đồng/lượng, qua đó đưa giá mua – bán lên mức 143,2 triệu đồng/lượng – 146,2 triệu đồng/lượng.
Trái ngược xu hướng chung, Bảo Tín Minh Châu nâng giá mua thêm 100.000 đồng/lượng lên 143 triệu đồng/lượng, nhưng bất ngờ giảm tới 700.000 đồng/lượng ở chiều bán, xuống còn 146,2 triệu đồng/lượng.
Mi Hồng cũng quay đầu giảm 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, đưa giá về 144 triệu đồng/lượng mua vào và 145,5 triệu đồng/lượng bán ra.
|
Vàng nhẫn tròn trơn |
Phiên ngày 14/9 |
Phiên ngày 12/9 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
|
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
|||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
142,70 |
145,70 |
142,50 |
145,50 |
+200 |
+200 |
|
Tập đoàn Doji |
143,00 |
147,00 |
143,00 |
147,00 |
- |
- |
|
Tập đoàn Phú Quý |
143,20 |
146,20 |
143,00 |
146,40 |
+200 |
-200 |
|
Vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
143,00 |
146,10 |
143,00 |
146,00 |
- |
+100 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
143,00 |
147,00 |
142,90 |
146,90 |
+100 |
+100 |
|
Mi Hồng |
144,00 |
145,50 |
144,50 |
146,00 |
-500 |
-500 |
Vàng nhẫn trơn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Thị trường giá vàng nhẫn ngày 14/9 diễn biến giằng co rõ nét, khi SJC và Bảo Tín Minh Châu đi lên, DOJI đứng yên, trong khi Mi Hồng giảm sâu 500.000 đồng/lượng.
Vàng nhẫn SJC tăng 200.000 đồng/lượng ở cả chiều mua và bán, lên lần lượt 142,7 triệu đồng/lượng và 145,7 triệu đồng/lượng.
DOJI gần như “án binh bất động”, giữ nguyên mức 143 triệu đồng/lượng mua vào và 147 triệu đồng/lượng bán ra so với phiên 12/9.
Tại Phú Quý, diễn biến hai chiều trái ngược khi giá mua tăng 200.000 đồng/lượng lên 143,2 triệu đồng/lượng, còn giá bán giảm 200.000 đồng/lượng xuống 146,2 triệu đồng/lượng.
PNJ giữ nguyên giá mua ở 143 triệu đồng/lượng, trong khi chiều bán nhích thêm 100.000 đồng/lượng, đạt 146,1 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu tăng 100.000 đồng/lượng cho cả hai chiều, đưa giá vàng nhẫn lên 143 triệu đồng/lượng mua vào và 147 triệu đồng/lượng bán ra.
Riêng Mi Hồng giảm mạnh 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, hiện giao dịch tại 144 triệu đồng/lượng mua vào và 145,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Ảnh minh hoạ: Minh Thư
|
Vàng nữ trang 24K |
Khu vực |
Phiên ngày 14/9 |
Phiên ngày 12/9 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
140,2 |
144,7 |
140 |
144,5 |
+200 |
+200 |
|
Tập đoàn Doji |
Hà Nội |
142,40 |
146,40 |
142,50 |
146,50 |
-100 |
-100 |
|
TP HCM |
142,40 |
146,40 |
142,50 |
146,50 |
-100 |
-100 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
140,30 |
145,30 |
140,00 |
145,00 |
+300 |
+300 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
140,30 |
145,30 |
140,50 |
145,50 |
-200 |
-200 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
141,00 |
146,00 |
140,90 |
145,90 |
+100 |
+100 |
Vàng 24K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Giá vàng 24K phiên 14/9 không hình thành xu hướng chung khi các thương hiệu tăng – giảm đan xen, trong đó Phú Quý dẫn đầu chiều tăng còn PNJ điều chỉnh mạnh nhất theo hướng đi xuống.
Tại SJC, vàng 24K tăng 200.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, lên 140,2 triệu đồng/lượng mua vào và 144,7 triệu đồng/lượng bán ra.
DOJI tại Hà Nội và TP HCM cùng giảm 100.000 đồng/lượng, đưa giá xuống 142,4 triệu đồng/lượng mua vào và 146,4 triệu đồng/lượng bán ra.
Phú Quý gây chú ý khi tăng mạnh 300.000 đồng/lượng ở cả chiều mua lẫn bán, hiện niêm yết tại 140,3 triệu đồng/lượng và 145,3 triệu đồng/lượng.
Ngược chiều, PNJ giảm 200.000 đồng/lượng, kéo giá mua vào còn 140,3 triệu đồng/lượng và bán ra xuống 145,3 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu điều chỉnh tăng nhẹ 100.000 đồng/lượng mỗi chiều, đưa giá lên 141 triệu đồng/lượng mua vào và 146 triệu đồng/lượng bán ra.
|
Vàng nữ trang 18K |
Khu vực |
Phiên ngày 14/9 |
Phiên ngày 12/9 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
98,886 |
108,686 |
98,736 |
108,536 |
+150 |
+150 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
99,08 |
108,98 |
99,23 |
109,13 |
-150 |
-150 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
96,50 |
99,50 |
96,50 |
99,50 |
- |
- |
Vàng 18K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Giá vàng 18K ghi nhận thế giằng co trong phiên 14/9 khi SJC tăng giá, PNJ điều chỉnh giảm với biên độ tương đương, còn Mi Hồng giữ nguyên mức niêm yết.
Tại SJC, vàng 18K tăng 150.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, đưa giá mua vào lên 98,886 triệu đồng/lượng và giá bán ra đạt 108,686 triệu đồng/lượng.
PNJ lại đi theo hướng ngược lại, giảm 150.000 đồng/lượng mỗi chiều, hiện giao dịch tại 99,08 triệu đồng/lượng mua vào và 108,98 triệu đồng/lượng bán ra.
Trong khi đó, Mi Hồng không điều chỉnh giá, tiếp tục giữ mức 96,5 triệu đồng/lượng mua vào và 99,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay giảm 0,52% xuống 4.325,10 USD/ounce theo Kitco; tương tự, giá vàng giao tháng 10 cũng giảm còn 4.326,50 USD/ounce, ghi nhận vào lúc 13h40.
Quy đổi theo giá USD của ngân hàng Vietcombank (26.130 đồng), giá vàng thế giới tương đương 136,2 triệu đồng/lượng, thấp hơn 10 triệu đồng/lượng so với giá vàng trong nước.
Giá lúa gạo hôm nay tiếp tục tăng 50 – 100 đồng/kg ở nhóm gạo nguyên liệu và phụ phẩm. Trong khi đó, Philippines đã nhập khẩu 3,6 triệu tấn gạo trong 8 tháng đầu năm, tăng hơn 24% và vượt cả năm 2025, nhằm bổ sung tồn kho trước tác động của El Niño.
Khảo sát Vàng tuần này của Kitco News cho thấy giới phân tích Phố Wall đã trở lại với tâm lý lạc quan sau đà tăng của vàng vào cuối tuần trước. Trong khi đó, nhà đầu tư cá nhân tiếp tục thu hẹp tỷ lệ kỳ vọng giá tăng sau một tuần vàng giảm giá.
Giá tiêu trong nước điều chỉnh tăng vào tháng 7 nhưng nhanh chóng đảo chiều trong 20 ngày đầu tháng 8. Trong bối cảnh nguồn cung suy giảm và lượng tồn kho ở mức thấp, nhu cầu tiêu thụ vẫn chịu sức ép từ những bất ổn do xung đột tại Trung Đông và chính sách thuế quan của Mỹ.
Giá gas hôm nay 14/9 tiếp tục ổn định sau đợt điều chỉnh đầu tháng, các khu vực chưa ghi nhận thêm biến động mới. Mặt bằng giá vẫn phân hóa rõ, TP HCM cao nhất với 554.000 đồng/bình 12kg, trong khi Hải Phòng thấp nhất ở 517.104 đồng/bình, chênh lệch 36.896 đồng/bình.