|
Vàng miếng SJC |
Khu vực |
Phiên ngày 16/10 |
Phiên ngày 15/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
140,30 |
143,30 |
140,30 |
143,30 |
- |
- |
|
Hệ thống Doji |
Hà Nội |
140,30 |
143,30 |
140,30 |
143,30 |
- |
- |
|
TP HCM |
140,30 |
143,30 |
140,30 |
143,30 |
- |
- |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
139,80 |
143,30 |
139,80 |
143,30 |
- |
- |
|
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
TP HCM |
140,30 |
143,30 |
140,30 |
143,30 |
- |
- |
|
Hà Nội |
140,30 |
143,30 |
140,30 |
143,30 |
- |
- |
|
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
138,40 |
143,30 |
138,60 |
142,60 |
-200 |
+700 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
141,80 |
143,30 |
141,30 |
142,80 |
+500 |
+500 |
Vàng miếng tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Giá vàng miếng SJC ngày 16/10 ghi nhận diễn biến không đồng nhất giữa các doanh nghiệp, khi Mi Hồng tăng 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, Bảo Tín Minh Châu nâng giá bán nhưng hạ giá mua, trong khi các thương hiệu lớn khác đứng yên.
Cụ thể, tại Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC), Tập đoàn DOJI và hệ thống PNJ, giá vàng miếng tiếp tục giữ nguyên ở mức 140,3 triệu đồng/lượng mua vào và 143,3 triệu đồng/lượng bán ra.
Tại Tập đoàn Phú Quý, giá thu mua ổn định ở mức 139,8 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra giữ tại 143,3 triệu đồng/lượng, không biến động so với phiên trước.
Đáng chú ý, Bảo Tín Minh Châu điều chỉnh giảm 200.000 đồng/lượng ở chiều mua vào nhưng tăng tới 700.000 đồng/lượng ở chiều bán ra. Sau điều chỉnh, giá vàng được giao dịch ở mức 138,4 triệu đồng/lượng mua vào và 143,3 triệu đồng/lượng bán ra.
Ngược chiều giảm giá mua tại Bảo Tín Minh Châu, Mi Hồng đồng loạt nâng giá mua và bán thêm 500.000 đồng/lượng, đưa giá giao dịch lên 141,8 triệu đồng/lượng mua vào và 143,3 triệu đồng/lượng bán ra.
|
Vàng nhẫn tròn trơn |
Phiên ngày 16/10 |
Phiên ngày 15/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
|
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
|||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
139,8 |
142,8 |
139,8 |
142,8 |
- |
- |
|
Tập đoàn Doji |
139,00 |
143,00 |
139,00 |
143,00 |
- |
- |
|
Tập đoàn Phú Quý |
139,80 |
143,00 |
139,80 |
142,80 |
- |
+200 |
|
Vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
139,80 |
142,8 |
139,80 |
142,80 |
- |
- |
|
Bảo Tín Minh Châu |
138,40 |
142,40 |
138,60 |
142,60 |
-200 |
-200 |
|
Mi Hồng |
141,80 |
143,30 |
141,30 |
142,80 |
+500 |
+500 |
Vàng nhẫn trơn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Thị trường vàng nhẫn tròn trơn ngày 16/10 xuất hiện những điều chỉnh đáng chú ý tại Mi Hồng, Phú Quý và Bảo Tín Minh Châu, trong khi SJC, DOJI và PNJ tiếp tục giữ nguyên giá niêm yết.
Theo đó, giá vàng nhẫn tại SJC không thay đổi so với ngày 15/10, duy trì ở mức 139,8 triệu đồng/lượng mua vào và 142,8 triệu đồng/lượng bán ra.
Tại DOJI, vàng nhẫn tròn trơn được giao dịch ở mức 139 triệu đồng/lượng chiều mua và 143 triệu đồng/lượng chiều bán, không ghi nhận biến động mới.
Trong khi đó, Tập đoàn Phú Quý tăng 200.000 đồng/lượng ở chiều bán ra, đưa giá lên 143 triệu đồng/lượng. Chiều mua vào vẫn giữ nguyên tại 139,8 triệu đồng/lượng.
Hệ thống PNJ chưa điều chỉnh giá vàng nhẫn, tiếp tục niêm yết mức mua vào 139,8 triệu đồng/lượng và bán ra 142,8 triệu đồng/lượng.
Trái với Phú Quý, Bảo Tín Minh Châu giảm 200.000 đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch. Giá mua vào lùi về 138,4 triệu đồng/lượng, còn giá bán ra giảm xuống 142,4 triệu đồng/lượng.
Riêng Mi Hồng ghi nhận mức tăng 500.000 đồng/lượng ở cả chiều mua và bán, đẩy giá giao dịch lên lần lượt 141,8 triệu đồng/lượng và 143,3 triệu đồng/lượng, cao nhất trong nhóm thương hiệu được khảo sát.
Ảnh: Minh Thư
|
Vàng nữ trang 24K |
Khu vực |
Phiên ngày 16/10 |
Phiên ngày 15/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
137,3 |
141,8 |
137,3 |
141,8 |
- |
- |
|
Tập đoàn Doji |
Hà Nội |
138 |
141 |
138 |
141 |
- |
- |
|
TP HCM |
138 |
141 |
138 |
141 |
- |
- |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
137,00 |
141,5 |
136,50 |
141 |
+500 |
+500 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
136,90 |
142 |
136,50 |
141 |
+400 |
+500 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
136,40 |
141,40 |
136,60 |
141,60 |
-200 |
-200 |
Vàng 24K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Giá vàng 24K ngày 16/10 biến động tại ba thương hiệu lớn, trong đó Phú Quý và PNJ đồng loạt tăng giá, còn Bảo Tín Minh Châu điều chỉnh giảm ở cả hai chiều giao dịch.
Tại SJC, giá vàng nữ trang 24K tiếp tục đi ngang, với mức mua vào 137,3 triệu đồng/lượng và bán ra 141,8 triệu đồng/lượng.
DOJI giữ nguyên giá giao dịch tại Hà Nội và TP HCM, niêm yết vàng 24K ở mức 138 triệu đồng/lượng mua vào và 141 triệu đồng/lượng bán ra.
Tập đoàn Phú Quý nâng giá mua vào và bán ra cùng 500.000 đồng/lượng. Sau điều chỉnh, giá vàng 24K tăng lên 137 triệu đồng/lượng ở chiều mua và 141,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán.
Tại PNJ, giá mua vào tăng 400.000 đồng/lượng, lên mức 136,9 triệu đồng/lượng. Giá bán ra tăng thêm 500.000 đồng/lượng, đạt 142 triệu đồng/lượng, cao nhất trong các thương hiệu được khảo sát.
Ở chiều ngược lại, Bảo Tín Minh Châu giảm 200.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, đưa giá mua vào xuống 136,4 triệu đồng/lượng và bán ra còn 141,4 triệu đồng/lượng.
|
Vàng nữ trang 18K |
Khu vực |
Phiên ngày 16/10 |
Phiên ngày 15/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
96,711 |
106,511 |
96,711 |
106,511 |
- |
- |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
95,85 |
105,75 |
95,85 |
105,75 |
- |
- |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
94,50 |
97,50 |
94,00 |
97,00 |
+500 |
+500 |
Vàng 18K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Khác với những điều chỉnh đan xen ở nhóm vàng 24K, giá vàng 18K ngày 16/10 chỉ ghi nhận biến động tại Mi Hồng, trong khi SJC và PNJ đồng loạt giữ nguyên mức giao dịch.
Cụ thể, tại SJC, vàng nữ trang 18K tiếp tục được niêm yết ở mức 96,711 triệu đồng/lượng mua vào và 106,511 triệu đồng/lượng bán ra, không thay đổi so với ngày 15/10.
Hệ thống PNJ cũng duy trì giá mua vào ở mức 95,85 triệu đồng/lượng và bán ra 105,75 triệu đồng/lượng, giữ nguyên tại cả hai chiều giao dịch.
Đáng chú ý, Mi Hồng tăng 500.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra. Sau điều chỉnh, giá vàng 18K tại doanh nghiệp này đạt 94,5 triệu đồng/lượng mua vào và 97,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay tăng 0,18% lên 4.133,90 USD/ounce theo Kitco; tương tự, giá vàng giao tháng 10 cũng tăng lên 4.178,54 USD/ounce, ghi nhận vào lúc 13h40.
Quy đổi theo giá USD của ngân hàng Vietcombank (26.060 đồng), giá vàng thế giới tương đương 131,1 triệu đồng/lượng, thấp hơn 12,2 triệu đồng/lượng so với giá vàng trong nước.
Giá đồng COMEX giảm 1,56% xuống 14.454 USD/tấn, đánh dấu phiên giảm thứ ba liên tiếp, do áp lực từ các yếu tố vĩ mô tại Mỹ và triển vọng nhu cầu suy yếu tại Trung Quốc.
Giá lúa gạo hôm nay tại thị trường trong nước tiếp tục tăng từ 50–200 đồng/kg. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tăng vọt 20 USD/tấn trong tuần này, lên mức cao nhất trong gần hai tháng nhờ kỳ vọng nhu cầu cải thiện.
Giá gas trong nước hôm nay 16/10 có dấu hiệu hạ nhiệt tại miền Bắc, khi giá bình 12kg tại Hà Nội và Hải Phòng lần lượt giảm 45.370 đồng và 49.248 đồng/bình. Trong khi đó, Đà Nẵng, TP HCM và Cần Thơ vẫn giữ nguyên giá, với bình 12kg dao động từ 580.000 đến 612.000 đồng/bình.
Giá sầu riêng hôm nay (16/10) tiếp tục đi ngang tại các vùng thu mua trọng điểm. Nông dân Đắk Lắk kiến nghị giải pháp kiểm soát vật tư, phát triển vùng nguyên liệu sầu riêng và được Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ghi nhận.