|
Vàng miếng SJC |
Khu vực |
Phiên ngày 18/8 |
Phiên ngày 17/8 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
141,30 |
144,30 |
141,80 |
144,80 |
-500 |
-500 |
|
Hệ thống Doji |
Hà Nội |
141,30 |
144,30 |
141,80 |
144,80 |
-500 |
-500 |
|
TP HCM |
141,30 |
144,30 |
141,80 |
144,80 |
-500 |
-500 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
141,30 |
144,30 |
141,80 |
144,80 |
-500 |
-500 |
|
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
TP HCM |
141,30 |
144,30 |
141,00 |
144,70 |
+300 |
-400 |
|
Hà Nội |
141,30 |
144,30 |
141,00 |
144,70 |
+300 |
-400 |
|
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
141,30 |
144,30 |
141,50 |
145,50 |
-200 |
-1.200 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
141,50 |
143,00 |
142,00 |
143,50 |
-500 |
-500 |
Vàng miếng tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Thị trường vàng miếng trong nước chiều 18/8 bất ngờ nghiêng về xu hướng giảm, khi giá vàng miếng SJC tại phần lớn doanh nghiệp mất từ 200.000 đồng/lượng đến 1,2 triệu đồng/lượng, riêng Phú Nhuận nâng giá mua nhưng lại hạ mạnh chiều bán.
Tại Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC), cả hai chiều giao dịch cùng giảm 500.000 đồng/lượng. Sau điều chỉnh, giá vàng miếng SJC tại TP HCM xuống còn 141,3 triệu đồng/lượng mua vào và 144,3 triệu đồng/lượng bán ra.
Tập đoàn DOJI cũng kéo giá xuống nửa triệu đồng mỗi lượng ở cả Hà Nội và TP HCM. Mức niêm yết mới đồng loạt về 141,3 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 144,3 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra.
Tại Tập đoàn Phú Quý, vàng miếng không tránh khỏi nhịp giảm khi giá mua và bán cùng mất 500.000 đồng/lượng. Doanh nghiệp hiện thu mua ở 141,3 triệu đồng/lượng và bán ra ở 144,3 triệu đồng/lượng.
Diễn biến tại Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ) đáng chú ý hơn khi hai chiều giá đi ngược hướng. Giá mua vào được nâng 300.000 đồng/lượng, lên 141,3 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra giảm 400.000 đồng/lượng, xuống 144,3 triệu đồng/lượng tại cả TP HCM và Hà Nội.
Mức điều chỉnh mạnh nhất thuộc về Bảo Tín Minh Châu. Giá mua vào giảm 200.000 đồng/lượng, còn 141,3 triệu đồng/lượng, nhưng chiều bán ra lao dốc tới 1,2 triệu đồng/lượng, từ 145,5 triệu đồng xuống 144,3 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, Mi Hồng hạ đồng thời 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều. Giá mua vào sau điều chỉnh còn 141,5 triệu đồng/lượng, còn giá bán ra lùi về 143 triệu đồng/lượng – thấp nhất trong nhóm doanh nghiệp được khảo sát.
|
Vàng nhẫn tròn trơn |
Phiên ngày 18/8 |
Phiên ngày 17/8 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
|
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
|||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
140,80 |
143,80 |
141,30 |
144,30 |
-500 |
-500 |
|
Tập đoàn Doji |
141,60 |
145,60 |
141,20 |
145,20 |
+400 |
+400 |
|
Tập đoàn Phú Quý |
141,30 |
144,30 |
141,80 |
144,80 |
-500 |
-500 |
|
Vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
140,70 |
144,20 |
141,00 |
144,70 |
-300 |
-500 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
141,80 |
145,70 |
141,50 |
145,50 |
+300 |
+200 |
|
Mi Hồng |
141,50 |
143,00 |
142,00 |
143,50 |
-500 |
-500 |
Vàng nhẫn trơn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Giá vàng nhẫn hôm nay 18/8 diễn biến trái chiều khi SJC, Phú Quý, PNJ và Mi Hồng đồng loạt hạ giá, trong khi DOJI và Bảo Tín Minh Châu bất ngờ đi lên, đưa mức bán cao nhất thị trường lên 145,7 triệu đồng/lượng.
Tại Công ty SJC, giá vàng nhẫn tròn trơn giảm 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều. Sau điều chỉnh, doanh nghiệp niêm yết giá mua vào ở 140,8 triệu đồng/lượng và bán ra 143,8 triệu đồng/lượng.
Đi ngược xu hướng giảm tại nhiều thương hiệu, Tập đoàn DOJI nâng đồng loạt 400.000 đồng/lượng cho cả chiều mua lẫn bán. Giá vàng nhẫn theo đó tăng lên 141,6 triệu đồng/lượng mua vào và 145,6 triệu đồng/lượng bán ra.
Trong khi đó, Tập đoàn Phú Quý kéo giá xuống nửa triệu đồng mỗi lượng. Mức giao dịch mới được đưa về 141,3 triệu đồng/lượng ở chiều mua và 144,3 triệu đồng/lượng ở chiều bán.
Tại hệ thống PNJ, đà giảm tập trung mạnh hơn ở chiều bán. Giá mua vào mất 300.000 đồng/lượng, xuống 140,7 triệu đồng/lượng, còn giá bán giảm 500.000 đồng/lượng, về 144,2 triệu đồng/lượng.
Trái lại, Bảo Tín Minh Châu tiếp tục đẩy giá vàng nhẫn lên cao. Doanh nghiệp tăng 300.000 đồng/lượng ở chiều mua lên 141,8 triệu đồng/lượng, đồng thời cộng thêm 200.000 đồng/lượng ở chiều bán, lên 145,7 triệu đồng/lượng – cao nhất trong nhóm được khảo sát.
Ở Mi Hồng, giá vàng nhẫn cùng giảm 500.000 đồng/lượng ở hai chiều, đưa giá mua vào về 141,5 triệu đồng/lượng và bán ra còn 143 triệu đồng/lượng. Đây cũng là mức bán thấp nhất trong bảng khảo sát ngày 18/8.
Ảnh minh hoạ: Minh Thư
|
Vàng nữ trang 24K |
Khu vực |
Phiên ngày 18/8 |
Phiên ngày 17/8 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
137,80 |
142,30 |
138,30 |
142,80 |
-500 |
-500 |
|
Tập đoàn Doji |
Hà Nội |
140,00 |
145,00 |
139,50 |
144,50 |
+500 |
+500 |
|
TP HCM |
140,00 |
145,00 |
139,50 |
144,50 |
+500 |
+500 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
138,70 |
143,70 |
139,00 |
144,00 |
-300 |
-300 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
138,20 |
143,20 |
138,50 |
143,50 |
-300 |
-300 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
139,70 |
144,70 |
139,50 |
144,50 |
+200 |
+200 |
Vàng 24K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Phân khúc vàng nữ trang 24K ngày 18/8 ghi nhận mức mua vào dao động 137,8 - 140 triệu đồng/lượng và bán ra 142,3 - 145 triệu đồng/lượng, trong đó DOJI đứng cao nhất bảng giá còn SJC niêm yết thấp nhất ở cả hai chiều.
Tại Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC), giá vàng 24K giảm đồng loạt 500.000 đồng/lượng. Sau điều chỉnh, giá mua vào lùi xuống 137,8 triệu đồng/lượng, còn giá bán ra về 142,3 triệu đồng/lượng.
Trong khi nhiều nơi hạ giá, Tập đoàn DOJI lại nâng mạnh 500.000 đồng/lượng cho cả hai chiều tại Hà Nội và TP HCM. Giá mua vào theo đó đạt 140 triệu đồng/lượng, bán ra lên 145 triệu đồng/lượng, cùng giữ vị trí cao nhất trong nhóm khảo sát.
Tại Tập đoàn Phú Quý, vàng 24K mất 300.000 đồng/lượng ở cả chiều mua lẫn bán. Mức niêm yết mới lần lượt là 138,7 triệu đồng/lượng và 143,7 triệu đồng/lượng.
Hệ thống PNJ cũng điều chỉnh giảm 300.000 đồng/lượng mỗi chiều, đưa giá mua xuống 138,2 triệu đồng/lượng và giá bán còn 143,2 triệu đồng/lượng.
Ở chiều ngược lại, Bảo Tín Minh Châu cộng thêm 200.000 đồng/lượng vào cả giá mua và bán. Doanh nghiệp hiện niêm yết 139,7 triệu đồng/lượng mua vào và 144,7 triệu đồng/lượng bán ra.
|
Vàng nữ trang 18K |
Khu vực |
Phiên ngày 18/8 |
Phiên ngày 17/8 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
97,09 |
106,89 |
97,46 |
107,26 |
-375 |
-375 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
97,50 |
107,40 |
97,73 |
107,63 |
-230 |
-230 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
96,00 |
99,00 |
96,00 |
99,00 |
- |
- |
Vàng 18K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Phân khúc vàng nữ trang 18K ngày 18/8 chủ yếu đi xuống khi SJC và PNJ cùng hạ giá, trong khi Mi Hồng đứng yên ở mức 96 - 99 triệu đồng/lượng, thấp nhất trong nhóm được khảo sát.
Tại Công ty SJC, giá vàng 18K giảm 375.000 đồng/lượng ở cả hai chiều. Sau điều chỉnh, giá mua vào còn 97,09 triệu đồng/lượng, còn giá bán ra lùi xuống 106,89 triệu đồng/lượng.
Ở Hệ thống PNJ, mức giảm nhẹ hơn, với cả giá mua và bán cùng hạ 230.000 đồng/lượng. Giá mới được niêm yết ở 97,5 triệu đồng/lượng mua vào và 107,4 triệu đồng/lượng bán ra.
Riêng Mi Hồng không thay đổi bảng giá trong phiên 18/8. Doanh nghiệp tiếp tục mua vào vàng 18K ở 96 triệu đồng/lượng và bán ra ở 99 triệu đồng/lượng.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay giảm 0,4%, xuống 4.397,90 USD/ounce theo Kitco; tương tự, giá vàng giao tháng 10 cũng giảm còn 4.397,94 USD/ounce, ghi nhận vào lúc 13h50.
Quy đổi theo giá USD của ngân hàng Vietcombank (26.380 đồng), giá vàng thế giới tương đương 139,8 triệu đồng/lượng, thấp hơn 4,5 triệu đồng/lượng so với giá vàng trong nước.
Giá lúa gạo hôm nay (18/8) tại thị trường trong nước tăng nhẹ ở một số chủng loại lúa, trong khi giá gạo nguyên liệu giữ ổn định. Trên thị trường thế giới, Indonesia dự kiến không nhập khẩu gạo trong năm 2026 dù đối mặt nguy cơ sản lượng bị ảnh hưởng bởi El Niño.
Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cá tra sang thị trường này đạt 357 triệu USD, tăng 31%, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này.
Giá gas hôm nay 18/8 tiếp tục giữ ổn định sau đợt tăng đầu tháng, với giá bình 12kg theo khu vực dao động từ 506.088 - 552.000 đồng/bình và chưa ghi nhận điều chỉnh mới.
Khảo sát thực địa đầu tiên của Bộ Nông nghiệp Mỹ cho niên vụ 2026/27 hạ năng suất ngô Mỹ xuống 180,7 giạ/mẫu và cắt giảm 137 triệu giạ tồn kho.