|
Vàng miếng SJC |
Khu vực |
Phiên ngày 18/4 |
Phiên ngày 13/4 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
168,50 |
172,00 |
168,50 |
171,50 |
- |
+500 |
|
Hệ thống Doji |
Hà Nội |
168,50 |
172,00 |
168,50 |
171,50 |
- |
+500 |
|
TP HCM |
168,50 |
172,00 |
168,50 |
171,50 |
- |
+500 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
168,50 |
172,00 |
168,50 |
171,50 |
- |
+500 |
|
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
TP HCM |
168,50 |
172,00 |
168,50 |
171,50 |
- |
+500 |
|
Hà Nội |
168,50 |
172,00 |
168,50 |
171,50 |
- |
+500 |
|
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
168,50 |
172,00 |
168,50 |
171,50 |
- |
+500 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
170,50 |
172,00 |
170,00 |
171,50 |
+500 |
+500 |
Vàng miếng tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Khép lại tuần giao dịch từ ngày 13/4 đến 18/4, giá vàng miếng SJC tại các doanh nghiệp lớn nhìn chung ổn định ở chiều mua vào, song đồng loạt điều chỉnh tăng ở chiều bán ra.
Khảo sát tại các hệ thống kinh doanh vàng lớn như Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC), Tập đoàn Doji, Phú Quý, hệ thống PNJ và Bảo Tín Minh Châu cho thấy, giá mua vào gần như không thay đổi so với đầu tuần. Trong khi đó, giá bán ra được điều chỉnh tăng thêm 500.000 đồng/lượng.
Riêng tại hệ thống Mi Hồng, giá vàng miếng SJC ghi nhận mức tăng đồng đều 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra.
|
Vàng nhẫn tròn trơn |
Phiên ngày 18/4 |
Phiên ngày 13/4 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
|
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
|||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
168,00 |
171,50 |
168,20 |
171,20 |
-200 |
+300 |
|
Tập đoàn Doji |
168,50 |
171,50 |
168,50 |
171,50 |
- |
- |
|
Tập đoàn Phú Quý |
168,50 |
171,50 |
168,50 |
171,50 |
- |
- |
|
Vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
168,50 |
171,50 |
168,20 |
171,20 |
+300 |
+300 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
168,50 |
171,50 |
168,50 |
171,50 |
- |
- |
|
Mi Hồng |
170,50 |
172,00 |
170,00 |
171,50 |
+500 |
+500 |
Vàng nhẫn trơn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Ở phân khúc vàng nhẫn tròn trơn, thị trường ghi nhận xu hướng biến động không đồng nhất giữa các doanh nghiệp trong tuần qua.
Cụ thể, tại Công ty SJC, giá vàng nhẫn giảm 200.000 đồng/lượng ở chiều mua vào, nhưng tăng 300.000 đồng/lượng ở chiều bán ra.
Ngược lại, hệ thống PNJ điều chỉnh tăng 300.000 đồng/lượng cho cả hai chiều giao dịch.
Trong khi đó, hệ thống Mi Hồng là đơn vị có mức điều chỉnh mạnh hơn khi tăng tới 500.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra.
Ở chiều hướng ổn định, Tập đoàn Doji, Phú Quý và Bảo Tín Minh Châu đồng loạt giữ nguyên giá vàng nhẫn tròn trơn trong suốt tuần giao dịch.
Ảnh minh hoạ: Du Y.
|
Vàng nữ trang 24K |
Khu vực |
Phiên ngày 18/4 |
Phiên ngày 13/4 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
166,00 |
170,00 |
166,20 |
169,70 |
-200 |
+300 |
|
Tập đoàn Doji |
Hà Nội |
165,50 |
169,50 |
165,10 |
169,10 |
+400 |
+400 |
|
TP HCM |
165,50 |
169,50 |
165,10 |
169,10 |
+400 |
+400 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
166,50 |
170,50 |
167,00 |
171,00 |
-500 |
-500 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
166,00 |
170,00 |
165,80 |
169,80 |
+200 |
+200 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
166,50 |
170,50 |
166,50 |
170,50 |
- |
- |
Vàng 24K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Tương tự vàng nhẫn, giá vàng nữ trang 24K trong tuần qua cũng ghi nhận sự phân hóa giữa các doanh nghiệp lớn.
Tại Công ty SJC, giá vàng 24K giảm 200.000 đồng/lượng ở chiều mua vào nhưng tăng 300.000 đồng/lượng ở chiều bán ra.
Trong khi đó, Tập đoàn Doji điều chỉnh tăng mạnh 400.000 đồng/lượng cho cả hai chiều giao dịch tại thị trường Hà Nội và TP HCM. Hệ thống PNJ cũng tăng nhẹ 200.000 đồng/lượng ở mỗi chiều.
Trái ngược xu hướng chung, Tập đoàn Phú Quý ghi nhận mức giảm 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra.
Riêng hệ thống Bảo Tín Minh Châu duy trì mức giá ổn định, không có biến động trong tuần.
|
Vàng nữ trang 18K |
Khu vực |
Phiên ngày 18/4 |
Phiên ngày 13/4 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
118,76 |
127,66 |
118,54 |
127,43 |
+230 |
+230 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
118,60 |
127,50 |
118,45 |
127,35 |
+150 |
+150 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
110,00 |
113,50 |
109,50 |
113,00 |
+500 |
+500 |
Vàng 18K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát trong tuần qua. (Tổng hợp: Du Y)
Phân khúc vàng nữ trang 18K trong tuần qua ghi nhận xu hướng tăng đồng loạt tại các doanh nghiệp.
Theo đó, tại Công ty SJC, giá vàng 18K tăng 230.000 đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch.
Hệ thống PNJ điều chỉnh tăng 150.000 đồng/lượng, trong khi hệ thống Mi Hồng ghi nhận mức tăng mạnh hơn, lên tới 500.000 đồng/lượng cho cả chiều mua vào và bán ra.
Nhìn chung, trong tuần giao dịch từ 13/4 đến 18/4, thị trường vàng trong nước có sự phân hóa rõ rệt giữa các phân khúc. Vàng miếng SJC duy trì xu hướng tăng nhẹ ở chiều bán ra, trong khi vàng nhẫn và vàng nữ trang 24K biến động trái chiều tùy theo chính sách điều chỉnh giá của từng doanh nghiệp.
Diễn biến này cho thấy thị trường vẫn đang trong trạng thái thăm dò, phản ánh sự điều chỉnh linh hoạt của các doanh nghiệp trước biến động của giá vàng thế giới cũng như nhu cầu giao dịch trong nước.
Giá tiêu hôm nay dao động quanh mức 139.000–141.000 đồng/kg, giảm nhẹ 500 đồng/kg tại Gia Lai và đi ngang tại các địa phương khác. Tuy nhiên, tính chung cả tuần, giá tiêu vẫn tăng khoảng 1.000–2.000 đồng/kg, phản ánh tín hiệu phục hồi khi vụ thu hoạch dần kết thúc.
Trái ngược với diễn biến của thị trường thế giới, giá cà phê trong nước tiếp tục giảm tuần thứ tư liên tiếp, xuống còn 84.500–85.200 đồng/kg. Giao dịch trong tuần vẫn khá trầm lắng khi nông dân chưa vội bán ra, dù nhu cầu vẫn hiện hữu sau đợt giảm giá đáng kể trước đó.
Tuần qua, thị trường gạo châu Á chứng kiến sự phân hóa rõ rệt, trong đó giá gạo xuất khẩu của Việt Nam có xu hướng nhích tăng do nguồn cung thu hẹp sau vụ Đông Xuân, trong khi giá gạo Ấn Độ tiếp tục duy trì ổn định nhờ nguồn cung dồi dào.
Khảo sát mới nhất cho thấy giá các sản phẩm thịt heo tại hệ thống cửa hàng WinMart và Công ty Thực phẩm tươi sống Hà Hiền vẫn duy trì ổn định.