Theo khảo sát, giá tiêu sáng nay tại thị trường trong nước dao động quanh mức 139.000–141.000 đồng/kg, giảm nhẹ 500 đồng/kg tại Gia Lai và đi ngang tại các địa phương khác.
Mặc dù vậy, tính chung cả tuần, giá tiêu đã tăng khoảng 1.000–2.000 đồng/kg so với tuần trước, phản ánh tín hiệu phục hồi của thị trường khi vụ thu hoạch dần kết thúc.
Cụ thể, tại Đắk Lắk và Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng), giá tiêu tăng lần lượt 1.500 đồng/kg và 2.000 đồng/kg, cùng đạt mức cao nhất 141.000 đồng/kg.
Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) và Đồng Nai cũng tăng 1.500 đồng/kg, lên 140.000 đồng/kg.
Trong khi đó, Gia Lai ghi nhận mức tăng khiêm tốn hơn, khoảng 1.000 đồng/kg, giao dịch ở mức 139.500 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 19/4 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với tuần trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
141.000 |
- |
+1.500 |
|
Gia Lai |
139.500 |
-500 |
+1.000 |
|
Đắk Nông |
141.000 |
- |
+2.000 |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
140.000 |
- |
+1.500 |
|
Bình Phước |
140.000 |
- |
+1.500 |
|
Đồng Nai |
140.000 |
- |
+1.500 |
Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen của Indonesia đóng cửa tuần qua ở mức 7.043 USD/tấn, giảm 0,44% (31 USD/tấn) so với tuần trước.
Tại Brazil, giá tiêu đen Brazil ASTA 570 tuần qua giảm mạnh 2,44% (150 USD/tấn), xuống chỉ còn 6.000 USD/tấn.
Trong khi đó, giá tiêu đen Malaysia vẫn ổn định ở mức 9.300 USD/tấn, không đổi so với tuần trước.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu dao động trong khoảng 6.100 – 6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 19/4 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với tuần trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
7.043 |
-0,44 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
6.000 |
-2,44 |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.300 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.100 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.200 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia giảm 0,44% (41 USD/tấn) so với tuần trước, đạt 9.279 USD/tấn.
Tại Việt Nam và Malaysia, giá tiêu trắng đi ngang ở mức 9.000 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 19/4 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với tuần trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.279 |
-0,44 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.200 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.000 |
- |
Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA) dẫn số liệu từ ITC cho biết, trong tháng 2/2026, xuất khẩu hồ tiêu của Indonesia đạt 2.789 tấn, kim ngạch đạt 19,2 triệu USD, giảm 23,9% so với tháng 1/2026 và giảm 27,3% về khối lượng so với cùng kỳ tháng 2/2025.
Đáng chú ý, hầu hết các thị trường lớn đều ghi nhận mức giảm mạnh so với tháng trước, trong đó Mỹ giảm 45,2%, Việt Nam giảm 43,5% và Ấn Độ giảm 6,9% ngoại trừ Trung Quốc tăng 15,3% so với tháng 1/2026.
Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, Indonesia xuất khẩu tổng cộng 6.452 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt 43,5 triệu USD, giảm 26,1% so với mức 8.738 tấn về lượng và giảm 21,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Đây là mức giảm khá sâu, phản ánh xu hướng suy giảm nguồn cung mang tính cấu trúc của Indonesia trong những năm gần đây, đồng thời cho thấy thị trường thế giới vẫn chưa có sự phục hồi đồng đều.
Việt Nam tiếp tục là đối tác nhập khẩu lớn nhất trong 2 tháng đầu năm với khối lượng đạt 2.382 tấn, tăng nhẹ 4,2% so với cùng kỳ, qua đó duy trì vai trò là đầu ra ổn định hiếm hoi của hồ tiêu Indonesia.
Ngược lại, các thị trường quan trọng khác đều giảm mạnh, đặc biệt Mỹ đạt 977 tấn, giảm 35,6%, Ấn Độ đạt 620 tấn, giảm 28,8% và Trung Quốc đạt 338 tấn, giảm tới 80,5% là yếu tố chính kéo giảm lượng xuất khẩu trong giai đoạn này. Riêng Hàn Quốc ghi nhận mức tăng trưởng cao 100%, tuy nhiên quy mô còn nhỏ nên chưa đủ bù đắp sự sụt giảm từ các thị trường lớn.
Tổng thể, diễn biến xuất khẩu hồ tiêu của Indonesia trong 2 tháng đầu năm 2026 cho thấy bức tranh kém tích cực, khi cả yếu tố cung và cầu đều chưa thuận lợi. Sự suy giảm mạnh tại các thị trường tiêu thụ lớn, đặc biệt là Trung Quốc và Mỹ, đang tạo áp lực đáng kể lên hoạt động xuất khẩu, trong khi nguồn cung nội địa của Indonesia tiếp tục xu hướng thu hẹp.
Trái ngược với diễn biến của thị trường thế giới, giá cà phê trong nước tiếp tục giảm tuần thứ tư liên tiếp, xuống còn 84.500–85.200 đồng/kg. Giao dịch trong tuần vẫn khá trầm lắng khi nông dân chưa vội bán ra, dù nhu cầu vẫn hiện hữu sau đợt giảm giá đáng kể trước đó.
Trong tuần qua (13/4 - 18/4), thị trường vàng trong nước ghi nhận diễn biến phân hóa rõ nét giữa các phân khúc. Trong khi vàng miếng SJC có xu hướng tăng ở chiều bán ra, vàng nhẫn tròn trơn và vàng nữ trang 24K lại biến động trái chiều tùy từng doanh nghiệp.
Tuần qua, thị trường gạo châu Á chứng kiến sự phân hóa rõ rệt, trong đó giá gạo xuất khẩu của Việt Nam có xu hướng nhích tăng do nguồn cung thu hẹp sau vụ Đông Xuân, trong khi giá gạo Ấn Độ tiếp tục duy trì ổn định nhờ nguồn cung dồi dào.
Khảo sát mới nhất cho thấy giá các sản phẩm thịt heo tại hệ thống cửa hàng WinMart và Công ty Thực phẩm tươi sống Hà Hiền vẫn duy trì ổn định.