|
Vàng miếng SJC |
Khu vực |
Phiên ngày 18/7 |
Phiên ngày 11/7 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
144,50 |
147,50 |
146,90 |
149,90 |
-2.400 |
-2.400 |
|
Hệ thống Doji |
Hà Nội |
143,60 |
146,60 |
146,90 |
149,90 |
-3.300 |
-3.300 |
|
TP HCM |
143,60 |
146,60 |
146,90 |
149,90 |
-3.300 |
-3.300 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
144,00 |
147,50 |
145,30 |
148,80 |
-1.300 |
-1.300 |
|
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
TP HCM |
142,50 |
146,50 |
145,00 |
149,00 |
-2.500 |
-2.500 |
|
Hà Nội |
142,50 |
146,50 |
145,00 |
149,00 |
-2.500 |
-2.500 |
|
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
142,60 |
146,60 |
145,00 |
149,00 |
-2.400 |
-2.400 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
145,00 |
146,50 |
147,80 |
149,50 |
-2.800 |
-3.000 |
Vàng miếng tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát. (Tổng hợp: Minh Thư)
Thị trường vàng miếng khép tuần trong xu hướng đi xuống, với giá mua vào còn 142,5 – 145 triệu đồng/lượng và bán ra 146,5 – 147,5 triệu đồng/lượng; DOJI ghi nhận mức giảm sâu nhất 3,3 triệu đồng/lượng.
Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn hạ giá vàng miếng SJC 2,4 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều so với ngày 11/7. Giá cuối tuần lùi về 144,5 triệu đồng/lượng mua vào và 147,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Tại hệ thống DOJI, mức niêm yết tại Hà Nội và TP HCM cùng giảm 3,3 triệu đồng/lượng cho mỗi chiều, xuống 143,6 triệu đồng/lượng mua vào và 146,6 triệu đồng/lượng bán ra.
Tập đoàn Phú Quý điều chỉnh giảm nhẹ hơn, mất 1,3 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua lẫn bán. Sau thay đổi, vàng miếng được giao dịch ở mức 144 triệu đồng/lượng (mua vào) và 147,5 triệu đồng/lượng (bán ra).
Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận kéo giá mua và bán cùng giảm 2,5 triệu đồng/lượng tại Hà Nội và TP HCM. Mức giá mới lần lượt là 142,5 triệu đồng/lượng và 146,5 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu giảm đồng đều 2,4 triệu đồng/lượng, đưa giá mua vào về 142,6 triệu đồng/lượng và giá bán ra còn 146,6 triệu đồng/lượng.
Mi Hồng hạ giá mua 2,8 triệu đồng/lượng xuống 145 triệu đồng/lượng, trong khi chiều bán giảm 3 triệu đồng/lượng còn 146,5 triệu đồng/lượng.
|
Vàng nhẫn tròn trơn |
Phiên ngày 18/7 |
Phiên ngày 11/7 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
|
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
|||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
143,00 |
146,50 |
146,40 |
149,40 |
-3.400 |
-2.900 |
|
Tập đoàn Doji |
142,50 |
146,50 |
145,00 |
149,00 |
-2.500 |
-2.500 |
|
Tập đoàn Phú Quý |
143,00 |
146,50 |
145,30 |
148,80 |
-2.300 |
-2.300 |
|
Vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
142,50 |
146,50 |
145,00 |
149,00 |
-2.500 |
-2.500 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
142,60 |
146,60 |
145,00 |
149,00 |
-2.400 |
-2.400 |
|
Mi Hồng |
145,00 |
146,50 |
147,80 |
149,50 |
-2.800 |
-3.000 |
Vàng nhẫn trơn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát. (Tổng hợp: Minh Thư)
Khép lại tuần giao dịch, giá vàng nhẫn tròn trơn đồng loạt đi xuống tại các doanh nghiệp khảo sát, với mức giảm từ 2,3 triệu đồng/lượng đến 3,4 triệu đồng/lượng.
Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn giảm mạnh nhất ở chiều mua, mất 3,4 triệu đồng/lượng, xuống 143 triệu đồng/lượng; chiều bán hạ 2,9 triệu đồng/lượng, còn 146,5 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn DOJI điều chỉnh giảm đồng đều 2,5 triệu đồng/lượng ở hai chiều. Giá cuối tuần được niêm yết tại 142,5 triệu đồng/lượng mua vào và 146,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Tại Tập đoàn Phú Quý, giá vàng nhẫn tròn trơn cùng lùi 2,3 triệu đồng/lượng, đưa mức mua vào về 143 triệu đồng/lượng và bán ra còn 146,5 triệu đồng/lượng.
Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận kéo giá mua và bán cùng giảm 2,5 triệu đồng/lượng, lần lượt xuống 142,5 triệu đồng/lượng và 146,5 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu hạ 2,4 triệu đồng/lượng ở mỗi chiều, chốt tuần với giá mua vào 142,6 triệu đồng/lượng và bán ra 146,6 triệu đồng/lượng.
Mi Hồng giảm giá mua 2,8 triệu đồng/lượng xuống 145 triệu đồng/lượng, vẫn cao nhất nhóm khảo sát; giá bán mất 3 triệu đồng/lượng, còn 146,5 triệu đồng/lượng.
Ảnh minh hoạ: Minh Thư
|
Vàng nữ trang 24K |
Khu vực |
Phiên ngày 18/7 |
Phiên ngày 11/7 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
140,00 |
144,50 |
143,90 |
147,40 |
-3.900 |
-2.900 |
|
Tập đoàn Doji |
Hà Nội |
136,00 |
141,00 |
139,00 |
144,00 |
-3.000 |
-3.000 |
|
TP HCM |
136,00 |
141,00 |
139,00 |
144,00 |
-3.000 |
-3.000 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
140,50 |
146,50 |
142,00 |
147,00 |
-1.500 |
-500 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
139,50 |
144,50 |
143,20 |
147,20 |
-3.700 |
-2.700 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
140,60 |
145,60 |
143,00 |
148,00 |
-2.400 |
-2.400 |
Vàng 24K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát. (Tổng hợp: Minh Thư)
Khép tuần, giá vàng 24K lùi về khoảng 136 – 140,6 triệu đồng/lượng mua vào và 141 – 146,5 triệu đồng/lượng bán ra; Bảo Tín Minh Châu mua cao nhất, Phú Quý dẫn đầu chiều bán, trong khi DOJI niêm yết thấp nhất thị trường.
Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn giảm 3,9 triệu đồng/lượng ở chiều mua và 2,9 triệu đồng/lượng ở chiều bán. Giá sau điều chỉnh còn 140 triệu đồng/lượng mua vào và 144,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Tập đoàn DOJI kéo giá vàng 24K tại Hà Nội và TP HCM cùng giảm 3 triệu đồng/lượng ở mỗi chiều, xuống 136 triệu đồng/lượng mua vào và 141 triệu đồng/lượng bán ra.
Tại Tập đoàn Phú Quý, giá mua vào hạ 1,5 triệu đồng/lượng, còn 140,5 triệu đồng/lượng; chiều bán giảm nhẹ 500.000 đồng/lượng, về 146,5 triệu đồng/lượng, cao nhất nhóm khảo sát.
Hệ thống PNJ ghi nhận mức giảm 3,7 triệu đồng/lượng ở chiều mua và 2,7 triệu đồng/lượng ở chiều bán. Giá cuối tuần lần lượt đạt 139,5 triệu đồng/lượng và 144,5 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu hạ đồng đều 2,4 triệu đồng/lượng ở hai chiều, đưa giá mua vào xuống 140,6 triệu đồng/lượng và bán ra còn 145,6 triệu đồng/lượng.
|
Vàng nữ trang 18K |
Khu vực |
Phiên ngày 18/7 |
Phiên ngày 11/7 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
98,74 |
108,54 |
100,91 |
110,71 |
-2.175 |
-2.175 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
98,48 |
108,38 |
100,50 |
110,40 |
-2.020 |
-2.020 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
94,50 |
97,50 |
96,00 |
99,00 |
-1.500 |
-1.500 |
Vàng 18K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát. (Tổng hợp: Minh Thư)
Sau một tuần giao dịch, giá vàng 18K đồng loạt đi xuống tại ba doanh nghiệp khảo sát, với mức giảm từ 1,5 triệu đến 2,175 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều.
Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn điều chỉnh mạnh nhất khi hạ 2,175 triệu đồng/lượng cho mỗi chiều. Giá mua vào lùi về 98,74 triệu đồng/lượng, còn giá bán ra xuống 108,54 triệu đồng/lượng.
Tại hệ thống PNJ, giá vàng 18K giảm đồng đều 2,02 triệu đồng/lượng, hiện được niêm yết ở mức 98,48 triệu đồng/lượng mua vào và 108,38 triệu đồng/lượng bán ra.
Mi Hồng thu hẹp giá mua và bán cùng 1,5 triệu đồng/lượng. Sau điều chỉnh, sản phẩm vàng nữ trang 18K được giao dịch tương ứng tại 94,5 triệu đồng/lượng và 97,5 triệu đồng/lượng.
Nhìn chung, giá vàng trong nước đều khép tuần trong xu hướng giảm, với vàng miếng SJC mất 1,3–3,3 triệu đồng/lượng, vàng nhẫn tròn trơn giảm 2,3–3,4 triệu đồng/lượng, vàng 24K hạ 500.000 đồng/lượng đến 3,9 triệu đồng/lượng và vàng 18K lùi 1,5–2,175 triệu đồng/lượng. Áp lực giảm tập trung mạnh hơn ở chiều mua vào, qua đó khiến chênh lệch mua – bán tại nhiều doanh nghiệp vẫn duy trì ở mức cao.
Theo ghi nhận mới nhất, heo hơi trên cả nước đang được giao dịch với giá trong khoảng 62.000 - 67.000 đồng/kg.
Giá lúa gạo hôm nay tại thị trường trong nước biến động trái chiều. Trong khi giá lúa tươi Đài Thơm 8 giảm 200 đồng/kg so với hôm qua thì OM 5451 tăng 100 đồng/kg, các chủng loại còn lại nhìn chung ổn định.
Bảng giá vàng hôm nay 18/7 ghi nhận vàng miếng SJC, vàng nhẫn và vàng nữ trang tăng tại phần lớn doanh nghiệp, với biên độ điều chỉnh cao nhất 1,3 triệu đồng/lượng; riêng DOJI giữ nguyên niêm yết, còn PNJ giảm giá mua vàng miếng. Giá vàng thế giới vượt 4.017 USD/ounce, quy đổi thấp hơn giá vàng trong nước khoảng 19,3 triệu đồng/lượng.
Giá tiêu hôm nay tại thị trường trong nước quay đầu giảm 500 - 1.000 đồng/kg, xuống còn 137.000 - 140.000 đồng/kg. Trên thị trường thế giới, giá tiêu cùng đồng loạt giảm tại các quốc gia sản xuất hàng đầu như Indonesia, Brazil hay Malaysia.