|
Vàng miếng SJC |
Khu vực |
Phiên ngày 2/10 |
Phiên ngày 1/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
141,10 |
144,10 |
141,30 |
144,30 |
-200 |
-200 |
|
Hệ thống Doji |
Hà Nội |
140,50 |
143,50 |
140,80 |
143,80 |
-300 |
-300 |
|
TP HCM |
140,50 |
143,50 |
140,80 |
143,80 |
-300 |
-300 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
140,80 |
144,10 |
141,00 |
144,30 |
-200 |
-200 |
|
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
TP HCM |
141,10 |
144,10 |
140,80 |
143,80 |
300 |
300 |
|
Hà Nội |
141,10 |
144,10 |
140,80 |
143,80 |
300 |
300 |
|
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
139,90 |
144,10 |
139,80 |
143,80 |
100 |
300 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
142,50 |
144,00 |
142,70 |
144,20 |
-200 |
-200 |
Vàng miếng tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Hà My)
Trưa 2/10, giá vàng miếng SJC giảm tại Công ty SJC, tập đoàn Doji, tập đoàn Phú Quý và cửa hàng Mi Hồng so với ngày 1/10, trong khi hệ thống PNJ và Bảo Tín Minh Châu điều chỉnh tăng, đưa giá bán ra cùng lên 144,1 triệu đồng/lượng.
Công ty SJC hạ giá mua vào và bán ra cùng 200.000 đồng/lượng, xuống lần lượt 141,1 triệu đồng/lượng và 144,1 triệu đồng/lượng.
Tại Hà Nội và TP HCM, tập đoàn Doji giảm 300.000 đồng/lượng ở cả hai chiều. Giá mua vào sau điều chỉnh còn 140,5 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra lùi về 143,5 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn Phú Quý niêm yết giá thu mua ở mức 140,8 triệu đồng/lượng và bán ra 144,1 triệu đồng/lượng, cùng giảm 200.000 đồng/lượng so với phiên trước.
Ngược chiều giảm, hệ thống PNJ tại TP HCM và Hà Nội nâng giá mua vào và bán ra thêm 300.000 đồng/lượng, đưa mức giao dịch lên 141,1 triệu đồng/lượng mua vào và 144,1 triệu đồng/lượng bán ra.
Bảo Tín Minh Châu tăng giá mua vào thêm 100.000 đồng/lượng, đạt 139,9 triệu đồng/lượng; chiều bán ra tăng 300.000 đồng/lượng, lên 144,1 triệu đồng/lượng. Chênh lệch giữa giá mua và bán theo đó mở rộng lên 4,2 triệu đồng/lượng.
Cửa hàng Mi Hồng đưa giá mua vào xuống 142,5 triệu đồng/lượng và bán ra xuống 144 triệu đồng/lượng sau khi giảm 200.000 đồng/lượng ở mỗi chiều. Đơn vị này vẫn có giá thu mua cao nhất trong nhóm khảo sát, với chênh lệch giữa giá mua và bán ở mức 1,5 triệu đồng/lượng.
|
Vàng nhẫn tròn trơn |
Phiên ngày 2/10 |
Phiên ngày 1/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
|
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
|||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
140,60 |
143,70 |
140,80 |
143,80 |
-200 |
-100 |
|
Tập đoàn Doji |
139,80 |
143,80 |
139,80 |
143,80 |
0 |
0 |
|
Tập đoàn Phú Quý |
140,80 |
143,80 |
141,00 |
144,00 |
-200 |
-200 |
|
Vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
141,10 |
144,10 |
140,80 |
143,80 |
300 |
300 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
139,90 |
143,90 |
139,80 |
143,80 |
100 |
100 |
|
Mi Hồng |
142,50 |
144,00 |
142,70 |
144,20 |
-200 |
-200 |
Vàng nhẫn trơn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Hà My)
Khảo sát lúc 11h30 ngày 2/10 cho thấy giá vàng nhẫn tròn trơn giảm tại Công ty SJC, tập đoàn Phú Quý và cửa hàng Mi Hồng so với ngày 1/10, trong khi hệ thống PNJ và Bảo Tín Minh Châu tăng giá, còn tập đoàn Doji giữ nguyên mức niêm yết.
Công ty SJC giảm giá mua vào 200.000 đồng/lượng, xuống 140,6 triệu đồng/lượng; giá bán ra hạ 100.000 đồng/lượng, còn 143,7 triệu đồng/lượng.
Tại tập đoàn Doji, vàng nhẫn tiếp tục được giao dịch ở mức 139,8 triệu đồng/lượng mua vào và 143,8 triệu đồng/lượng bán ra, không thay đổi ở cả hai chiều so với phiên trước.
Tập đoàn Phú Quý đưa giá thu mua về 140,8 triệu đồng/lượng và bán ra về 143,8 triệu đồng/lượng sau khi giảm 200.000 đồng/lượng ở mỗi chiều.
Hệ thống PNJ nâng giá mua vào và bán ra cùng 300.000 đồng/lượng, lần lượt lên 141,1 triệu đồng/lượng và 144,1 triệu đồng/lượng. Đây là mức tăng lớn nhất và cũng là giá bán vàng nhẫn cao nhất trong nhóm khảo sát.
Ở Bảo Tín Minh Châu, giá mua vào tăng 100.000 đồng/lượng, đạt 139,9 triệu đồng/lượng; giá bán ra cũng tăng 100.000 đồng/lượng, lên 143,9 triệu đồng/lượng.
Cửa hàng Mi Hồng điều chỉnh giảm 200.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, đưa giá mua vào xuống 142,5 triệu đồng/lượng và bán ra xuống 144 triệu đồng/lượng. Đơn vị này vẫn dẫn đầu về giá thu mua, với chênh lệch giữa giá mua và bán duy trì ở mức 1,5 triệu đồng/lượng.
Ảnh minh hoạ: Hà My
|
Vàng nữ trang 24K |
Khu vực |
Phiên ngày 2/10 |
Phiên ngày 1/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
138,1 |
142,6 |
138,3 |
142,8 |
-200 |
-200 |
|
Tập đoàn Doji |
Hà Nội |
139 |
142 |
139 |
142 |
0 |
0 |
|
TP HCM |
139 |
142 |
139 |
142 |
0 |
0 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
137,50 |
142,50 |
138,00 |
143,00 |
-500 |
-500 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
137,40 |
142,40 |
137,50 |
142,50 |
-100 |
-100 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
137,90 |
142,90 |
137,80 |
142,80 |
100 |
100 |
Vàng 24K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Hà My)
Theo khảo sát lúc 11h30 ngày 2/10, giá vàng nữ trang 24K giảm tại Công ty SJC, tập đoàn Phú Quý và hệ thống PNJ so với ngày 1/10, trong khi tập đoàn Doji giữ nguyên giá và Bảo Tín Minh Châu tăng 100.000 đồng/lượng ở cả hai chiều.
Công ty SJC điều chỉnh giá mua vào xuống 138,1 triệu đồng/lượng và bán ra xuống 142,6 triệu đồng/lượng, cùng giảm 200.000 đồng/lượng so với phiên trước.
Tại Hà Nội và TP HCM, tập đoàn Doji duy trì giá vàng 24K ở mức 139 triệu đồng/lượng mua vào và 142 triệu đồng/lượng bán ra, không thay đổi ở cả hai chiều giao dịch.
Tập đoàn Phú Quý giảm giá mua và bán cùng 500.000 đồng/lượng, đưa mức niêm yết về 137,5 triệu đồng/lượng mua vào và 142,5 triệu đồng/lượng bán ra. Đây là mức giảm mạnh nhất trong nhóm khảo sát.
Hệ thống PNJ hạ giá thu mua 100.000 đồng/lượng, còn 137,4 triệu đồng/lượng; giá bán ra cũng giảm 100.000 đồng/lượng, xuống 142,4 triệu đồng/lượng.
Ngược chiều giảm, Bảo Tín Minh Châu nâng giá mua vào và bán ra thêm 100.000 đồng/lượng, lần lượt lên 137,9 triệu đồng/lượng và 142,9 triệu đồng/lượng. Sau điều chỉnh, đơn vị này có giá bán vàng nữ trang 24K cao nhất trong nhóm khảo sát.
|
Vàng nữ trang 18K |
Khu vực |
Phiên ngày 2/10 |
Phiên ngày 1/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
97,311 |
107,111 |
97,461 |
107,261 |
-150 |
-150 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
96,90 |
106,80 |
96,98 |
106,88 |
-80 |
-80 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
96,00 |
99,00 |
96,00 |
99,00 |
0 |
0 |
Vàng 18K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Hà My)
Khảo sát lúc 11h30 ngày 2/10 ghi nhận giá vàng nữ trang 18K tại Công ty SJC giảm 150.000 đồng/lượng và hệ thống PNJ giảm 80.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với ngày 1/10, trong khi cửa hàng Mi Hồng giữ nguyên giá.
Công ty SJC hạ giá mua vào xuống 97,311 triệu đồng/lượng và bán ra xuống 107,111 triệu đồng/lượng, cùng giảm 150.000 đồng/lượng so với phiên trước. Dù điều chỉnh giảm, đơn vị này vẫn có giá mua và bán vàng 18K cao nhất trong nhóm khảo sát.
Hệ thống PNJ niêm yết giá thu mua ở mức 96,9 triệu đồng/lượng, còn giá bán ra là 106,8 triệu đồng/lượng sau khi giảm 80.000 đồng/lượng ở mỗi chiều giao dịch.
Cửa hàng Mi Hồng tiếp tục duy trì giá mua vào ở mức 96 triệu đồng/lượng và bán ra 99 triệu đồng/lượng, không thay đổi so với ngày 1/10. Chênh lệch giữa giá mua và bán tại đây giữ ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay tăng 0,25%, lên 4.186,9 USD/ounce theo Kitco. Giá vàng giao tháng 10 cũng nhích lên 4.189,98 USD/ounce tại thời điểm 13h50.
Với tỷ giá Vietcombank ở mức 26.160 đồng/USD, giá vàng thế giới quy đổi tương đương 132,1 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng trong nước 12 triệu đồng/lượng.