|
Vàng miếng SJC |
Khu vực |
Phiên ngày 27/10 |
Phiên ngày 26/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
139,00 |
142,00 |
138,70 |
141,70 |
+300 |
+300 |
|
Hệ thống Doji |
Hà Nội |
139,00 |
142,00 |
138,70 |
141,70 |
+300 |
+300 |
|
TP HCM |
139,00 |
142,00 |
138,70 |
141,70 |
+300 |
+300 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
137,50 |
141,70 |
137,70 |
141,70 |
-200 |
- |
|
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
TP HCM |
139,00 |
142,00 |
138,70 |
141,70 |
+300 |
+300 |
|
Hà Nội |
139,00 |
142,00 |
138,70 |
141,70 |
+300 |
+300 |
|
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
137,00 |
141,00 |
136,80 |
140,80 |
+200 |
+200 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
140,50 |
142,00 |
140,00 |
141,50 |
+500 |
+500 |
Vàng miếng tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Chiều 27/10, giá vàng miếng SJC đồng loạt đi lên tại phần lớn doanh nghiệp kinh doanh vàng, trong đó Mi Hồng tăng mạnh nhất với mức điều chỉnh 500.000 đồng/lượng, trong khi Phú Quý giảm giá mua vào.
Cụ thể, Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) nâng giá mua và bán thêm 300.000 đồng/lượng, lên lần lượt 139 triệu đồng/lượng và 142 triệu đồng/lượng.
Cùng mức tăng 300.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, Tập đoàn DOJI và hệ thống PNJ hiện niêm yết vàng miếng ở mức 139 triệu đồng/lượng mua vào và 142 triệu đồng/lượng bán ra.
Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng được điều chỉnh tăng 200.000 đồng/lượng ở cả chiều mua lẫn bán, đưa giá giao dịch lên tương ứng 137 triệu đồng/lượng và 141 triệu đồng/lượng.
Đáng chú ý, Mi Hồng ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong nhóm khảo sát, cộng thêm 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, lên 140,50 triệu đồng/lượng mua vào và 142 triệu đồng/lượng bán ra.
Ngược chiều thị trường, Tập đoàn Phú Quý hạ 200.000 đồng/lượng ở chiều mua vào, xuống 137,50 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra giữ nguyên ở mức 141,70 triệu đồng/lượng.
|
Vàng nhẫn tròn trơn |
Phiên ngày 27/10 |
Phiên ngày 26/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
|
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
|||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
135,00 |
139,00 |
135,00 |
139,00 |
- |
- |
|
Tập đoàn Doji |
137,30 |
141,30 |
137,10 |
141,10 |
+200 |
+200 |
|
Tập đoàn Phú Quý |
137,50 |
140,50 |
137,70 |
140,70 |
-200 |
-200 |
|
Vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
137,60 |
140,60 |
137,60 |
140,60 |
- |
- |
|
Bảo Tín Minh Châu |
137,00 |
141,00 |
136,80 |
140,80 |
+200 |
+200 |
|
Mi Hồng |
140,50 |
142,00 |
140,00 |
141,50 |
+500 |
+500 |
Vàng nhẫn trơn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Thị trường giá vàng nhẫn hôm nay ghi nhận nhiều đợt điều chỉnh tăng, nổi bật là Mi Hồng nâng giá thêm 500.000 đồng/lượng, trái ngược với động thái giảm giá tại Phú Quý.
Dẫn đầu đà tăng, Mi Hồng cộng thêm 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch, đưa giá vàng nhẫn lên 140,50 triệu đồng/lượng mua vào và 142 triệu đồng/lượng bán ra.
Tại Tập đoàn DOJI, vàng nhẫn tròn trơn tăng 200.000 đồng/lượng ở cả chiều mua và bán, hiện giao dịch tại mức 137,30 – 141,30 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu cũng điều chỉnh tăng 200.000 đồng/lượng ở hai chiều, đưa giá mua vào lên 137 triệu đồng/lượng và bán ra đạt 141 triệu đồng/lượng.
Ở chiều ngược lại, Tập đoàn Phú Quý giảm 200.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra, kéo giá vàng nhẫn lần lượt xuống còn 137,50 triệu đồng/lượng và 140,50 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, SJC tiếp tục giữ nguyên giá vàng nhẫn tại 135 triệu đồng/lượng mua vào và 139 triệu đồng/lượng bán ra. Hệ thống PNJ cũng không thay đổi biểu giá, duy trì mức 137,60 triệu đồng/lượng mua vào và 140,60 triệu đồng/lượng bán ra.
Ảnh: Minh Thư
|
Vàng nữ trang 24K |
Khu vực |
Phiên ngày 27/10 |
Phiên ngày 26/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
133,00 |
138,00 |
133,00 |
138,00 |
- |
- |
|
Tập đoàn Doji |
Hà Nội |
134,70 |
138,70 |
134,50 |
138,50 |
+200 |
+200 |
|
TP HCM |
134,70 |
138,70 |
134,50 |
138,50 |
+200 |
+200 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
135,00 |
139,00 |
135,00 |
139 |
- |
- |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
133,50 |
138,00 |
133,50 |
138,0 |
- |
- |
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
135,00 |
140,00 |
134,80 |
139,80 |
+200 |
+200 |
Vàng 24K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Ở nhóm vàng nữ trang, giá vàng 24K ghi nhận mức tăng 200.000 đồng/lượng tại DOJI và Bảo Tín Minh Châu, trong khi SJC, Phú Quý và PNJ tiếp tục giữ nguyên giá niêm yết.
Theo đó, Tập đoàn DOJI tăng 200.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, đưa giá vàng 24K lên 134,70 triệu đồng/lượng mua vào và 138,70 triệu đồng/lượng bán ra.
Bảo Tín Minh Châu cũng cộng thêm 200.000 đồng/lượng cho cả chiều mua và bán, hiện niêm yết tương ứng 135 triệu đồng/lượng và 140 triệu đồng/lượng.
Ngược lại, SJC không điều chỉnh giá vàng nữ trang 24K, tiếp tục giao dịch tại mức 133 triệu đồng/lượng mua vào và 138 triệu đồng/lượng bán ra.
Tập đoàn Phú Quý duy trì mức mua vào 135 triệu đồng/lượng và bán ra 139 triệu đồng/lượng, không thay đổi so với phiên trước.
Tương tự, hệ thống PNJ giữ nguyên giá ở mức 133,50 triệu đồng/lượng mua vào và 138 triệu đồng/lượng bán ra.
|
Vàng nữ trang 18K |
Khu vực |
Phiên ngày 27/10 |
Phiên ngày 26/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
93,86 |
103,66 |
93,86 |
103,66 |
- |
- |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
93,60 |
103,50 |
93,60 |
103,50 |
- |
- |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
92,50 |
95,50 |
92,50 |
95,50 |
- |
- |
Vàng 18K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Khác với diễn biến đi lên của vàng miếng và một số dòng vàng 24K, giá vàng 18K không ghi nhận biến động tại các doanh nghiệp khảo sát, song mức giá bán ra giữa các thương hiệu vẫn có khoảng cách đáng kể.
Tại SJC, vàng nữ trang 18K tiếp tục được mua vào ở mức 93,86 triệu đồng/lượng và bán ra 103,66 triệu đồng/lượng, không thay đổi so với ngày 26/10.
Hệ thống PNJ cũng giữ nguyên giá niêm yết, với chiều mua vào ở mức 93,60 triệu đồng/lượng và chiều bán ra đạt 103,50 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, Mi Hồng duy trì giá mua vàng 18K ở mức 92,50 triệu đồng/lượng và bán ra 95,50 triệu đồng/lượng, không có điều chỉnh mới.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay quay đầu giảm 0,41% xuống 3.999,70 USD/ounce theo Kitco; tương tự, giá vàng giao tháng 12 cũng giảm xuống 4.000,91 USD/ounce, ghi nhận vào lúc 13h40.
Quy đổi theo giá USD của ngân hàng Vietcombank (26.020 đồng), giá vàng thế giới tương đương 125,4 triệu đồng/lượng, thấp hơn 16,6 triệu đồng/lượng so với giá vàng trong nước.
Giá lúa gạo hôm nay tiếp tục tăng trên diện rộng, mỗi chủng loại thêm 100 – 200 đồng/kg. Tại Philippines, sản lượng lúa được dự báo giảm khoảng 1 triệu tấn trong năm nay, xuống mức thấp nhất trong một thập kỷ, do chi phí đầu vào tăng cao khiến nông dân hạn chế gieo trồng.
Sản lượng cao su tự nhiên toàn cầu năm 2026 dự kiến chỉ đạt 15,04 triệu tấn, thấp hơn so với mức tiêu thụ 15,36 triệu tấn. Thị trường vì thế có thể thiếu hụt khoảng 317.000 tấn, trong bối cảnh thời tiết bất lợi, vườn cây già hóa và nhu cầu từ Trung Quốc chưa phục hồi đồng đều.
Giá gas hôm nay 27/10 tiếp tục ổn định, chưa ghi nhận thêm điều chỉnh mới tại các khu vực trong những ngày cuối tháng. Giá bình 12kg dao động từ 580.000 - 609.000 đồng/bình, trong đó Đà Nẵng cao nhất và Cần Thơ thấp nhất, chênh lệch 29.000 đồng/bình.
Giá cao su kỳ hạn tại Nhật Bản giảm xuống mức thấp nhất gần một tháng do giá dầu đi xuống, dù thời tiết bất lợi tại các vùng sản xuất chính giúp hạn chế đà giảm.