|
Vàng miếng SJC |
Khu vực |
Phiên ngày 6/11 |
Phiên ngày 5/11 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
138,00 |
141,00 |
140,40 |
143,40 |
-2.400 |
-2.400 |
|
Hệ thống Doji |
Hà Nội |
138,00 |
141,00 |
140,40 |
143,40 |
-2.400 |
-2.400 |
|
TP HCM |
138,00 |
141,00 |
140,40 |
143,40 |
-2.400 |
-2.400 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
137,50 |
141,00 |
139,40 |
143,40 |
-1.900 |
-2.400 |
|
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
TP HCM |
138,00 |
141,00 |
140,40 |
143,40 |
-2.400 |
-2.400 |
|
Hà Nội |
138,00 |
141,00 |
140,40 |
143,40 |
-2.400 |
-2.400 |
|
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
136,70 |
141,00 |
139,00 |
143,40 |
-2.300 |
-2.400 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
139,20 |
140,70 |
141,50 |
143,00 |
-2.300 |
-2.300 |
Vàng miếng tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 12h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Thị trường giá vàng miếng SJC ngày 6/11 tiếp tục chịu áp lực bán mạnh, khi các doanh nghiệp đồng loạt hạ giá từ 1,9 triệu đồng/lượng đến 2,4 triệu đồng/lượng, kéo giá bán ra phổ biến về ngưỡng 141 triệu đồng/lượng.
Cụ thể, tại Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC), giá vàng miếng giảm 2,4 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, xuống còn 138 triệu đồng/lượng mua vào và 141 triệu đồng/lượng bán ra.
Cùng mức giảm 2,4 triệu đồng/lượng, hệ thống DOJI tại Hà Nội và TP HCM đưa giá giao dịch về 138 triệu đồng/lượng ở chiều mua và 141 triệu đồng/lượng ở chiều bán.
Trong khi đó, Tập đoàn Phú Quý điều chỉnh giảm 1,9 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 2,4 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra, hiện niêm yết tương ứng ở mức 137,5 triệu đồng/lượng và 141 triệu đồng/lượng.
Tại PNJ, giá vàng miếng cũng mất 2,4 triệu đồng/lượng trên cả hai chiều giao dịch, đưa giá mua vào xuống 138 triệu đồng/lượng và bán ra còn 141 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu ghi nhận mức giảm 2,3 triệu đồng/lượng ở chiều mua và 2,4 triệu đồng/lượng ở chiều bán, kéo giá giao dịch xuống tương ứng 136,7 triệu đồng/lượng và 141 triệu đồng/lượng.
Riêng Mi Hồng hạ giá 2,3 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, hiện mua vào ở mức 139,2 triệu đồng/lượng và bán ra 140,7 triệu đồng/lượng.
|
Vàng nhẫn tròn trơn |
Phiên ngày 6/11 |
Phiên ngày 5/11 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
|
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
|||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
136,50 |
140,50 |
138,60 |
142,60 |
-2.100 |
-2.100 |
|
Tập đoàn Doji |
136,70 |
140,70 |
139,00 |
143,00 |
-2.300 |
-2.300 |
|
Tập đoàn Phú Quý |
137,50 |
140,50 |
139,40 |
142,40 |
-1.900 |
-1.900 |
|
Vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
136,30 |
140,30 |
138,30 |
142,30 |
-2.000 |
-2.000 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
136,70 |
140,70 |
139,00 |
143,00 |
-2.300 |
-2.300 |
|
Mi Hồng |
139,20 |
140,70 |
141,50 |
143,00 |
-2.300 |
-2.300 |
Vàng nhẫn trơn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 12h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Giá vàng nhẫn ngày 6/11 chứng kiến đợt điều chỉnh mạnh trên diện rộng, với mức giảm dao động 1,9 – 2,3 triệu đồng/lượng, đẩy giá bán ra tại các doanh nghiệp xuống không quá 140,7 triệu đồng/lượng.
Khảo sát tại SJC cho thấy vàng nhẫn tròn trơn giảm 2,1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, đưa giá mua vào về 136,5 triệu đồng/lượng và bán ra còn 140,5 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn DOJI tiếp tục điều chỉnh mạnh hơn khi hạ 2,3 triệu đồng/lượng ở hai chiều giao dịch, hiện niêm yết giá vàng nhẫn ở mức 136,7 triệu đồng/lượng mua vào và 140,7 triệu đồng/lượng bán ra.
Tại Phú Quý, giá vàng nhẫn giảm 1,9 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua và bán, xuống tương ứng 137,5 triệu đồng/lượng và 140,5 triệu đồng/lượng.
PNJ cũng không tránh khỏi đà giảm khi điều chỉnh 2 triệu đồng/lượng mỗi chiều, đưa giá giao dịch về 136,3 triệu đồng/lượng mua vào và 140,3 triệu đồng/lượng bán ra.
Đáng chú ý, Bảo Tín Minh Châu giảm đồng loạt 2,3 triệu đồng/lượng, kéo giá mua vào xuống 136,7 triệu đồng/lượng và bán ra còn 140,7 triệu đồng/lượng.
Tương tự, Mi Hồng hạ 2,3 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, hiện giao dịch tại mức 139,2 triệu đồng/lượng mua vào và 140,7 triệu đồng/lượng bán ra.
Ảnh minh hoạ: Minh Thư
|
Vàng nữ trang 24K |
Khu vực |
Phiên ngày 6/11 |
Phiên ngày 5/11 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
134,5 |
139,5 |
136,6 |
141,6 |
-2.100 |
-2.100 |
|
Tập đoàn Doji |
Hà Nội |
134,50 |
138,50 |
136,00 |
140,00 |
-1.500 |
-1.500 |
|
TP HCM |
134,50 |
138,50 |
136,00 |
140,00 |
-1.500 |
-1.500 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
135,00 |
139,50 |
136,90 |
141,40 |
-1.900 |
-1.900 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
136,30 |
140,30 |
137,10 |
141,60 |
-800 |
-1.300 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
134,70 |
139,70 |
137,00 |
142,00 |
-2.300 |
-2.300 |
Vàng 24K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 12h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Phân khúc giá vàng 24K ngày 6/11 ghi nhận làn sóng giảm giá lan rộng, trong đó Bảo Tín Minh Châu dẫn đầu mức điều chỉnh, còn giá bán ra tại các thương hiệu dao động từ 138,5 triệu đồng/lượng đến 140,3 triệu đồng/lượng.
Tại SJC, vàng nữ trang 24K giảm 2,1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, đưa giá mua vào xuống 134,5 triệu đồng/lượng và giá bán ra còn 139,5 triệu đồng/lượng.
Ở hệ thống DOJI, giá vàng 24K tại Hà Nội và TP HCM cùng giảm 1,5 triệu đồng/lượng, hiện niêm yết mức 134,5 triệu đồng/lượng mua vào và 138,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Tập đoàn Phú Quý cũng hạ giá 1,9 triệu đồng/lượng ở hai chiều giao dịch, xuống còn 135 triệu đồng/lượng mua vào và 139,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Trong khi đó, PNJ điều chỉnh không đồng đều khi giảm 800.000 đồng/lượng ở chiều mua và 1,3 triệu đồng/lượng ở chiều bán, đưa giá giao dịch về 136,3 triệu đồng/lượng và 140,3 triệu đồng/lượng.
Mức giảm mạnh nhất thuộc về Bảo Tín Minh Châu, với giá vàng 24K mất 2,3 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, hiện mua vào 134,7 triệu đồng/lượng và bán ra 139,7 triệu đồng/lượng.
|
Vàng nữ trang 18K |
Khu vực |
Phiên ngày 6/11 |
Phiên ngày 5/11 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
94,985 |
104,785 |
96,561 |
106,361 |
-1.576 |
-1.576 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
94,50 |
104,40 |
96,30 |
106,20 |
-1.800 |
-1.800 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
92,00 |
95,00 |
93,00 |
96,00 |
-1.000 |
-1.000 |
Vàng 18K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 12h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Không còn giữ được mặt bằng giá phiên trước, giá vàng 18K ngày 6/11 đồng loạt lao dốc tại các thương hiệu lớn, với PNJ ghi nhận mức giảm mạnh nhất 1,8 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch.
Theo đó, Công ty SJC điều chỉnh giảm 1,576 triệu đồng/lượng đối với vàng nữ trang 18K, đưa giá mua vào xuống 94,985 triệu đồng/lượng và giá bán ra còn 104,785 triệu đồng/lượng.
Tại PNJ, giá vàng 18K mất 1,8 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, hiện được niêm yết ở mức 94,5 triệu đồng/lượng mua vào và 104,4 triệu đồng/lượng bán ra.
Trong khi đó, Mi Hồng ghi nhận mức giảm nhẹ hơn, với giá mua vào và bán ra cùng hạ 1 triệu đồng/lượng, xuống tương ứng 92 triệu đồng/lượng và 95 triệu đồng/lượng.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay quay đầu giảm 1% xuống 4.046,50 USD/ounce theo Kitco; tương tự, giá vàng giao tháng 12 cũng giảm còn 4.046,11 USD/ounce, ghi nhận vào lúc 13h40.
Quy đổi theo giá USD của ngân hàng Vietcombank (25.780 đồng), giá vàng thế giới tương đương 125,7 triệu đồng/lượng, thấp hơn 15,3 triệu đồng/lượng so với giá vàng trong nước.
Giá lúa gạo hôm nay tại thị trường trong nước nhìn chung vẫn ổn định. Trong khi đó, giá gạo xuất khẩu tăng tuần thứ hai liên tiếp lên 480–490 USD/tấn, mức cao nhất kể từ tháng 12/2024. Philippines đã nối lại hoạt động mua gạo từ Việt Nam, nhưng chỉ mua gạo 25% tấm và 100% tấm.
Giá bạc thế giới tăng trở lại trong phiên giao dịch sáng 6/11, sau khi điều chỉnh từ vùng cao nhất một tuần trong phiên trước. Tuy nhiên, đà tăng vẫn hạn chế khi nhà đầu tư chờ báo cáo việc làm phi nông nghiệp (NFP) của Mỹ.
Giá gas trong nước hôm nay 6/11 tiếp tục ổn định sau kỳ điều chỉnh đầu tháng, các khu vực chưa ghi nhận thêm thay đổi mới. Giá bình 12kg dao động từ 580.000 - 612.000 đồng/bình, trong đó TP HCM cao nhất và Cần Thơ thấp nhất, chênh lệch 32.000 đồng/bình.
Giá cao su kỳ hạn tại Nhật Bản tăng nhẹ do nguồn cung thắt chặt lấn át tác động từ đà giảm mạnh của giá dầu, trong khi giá RSS3 của Thái Lan tiếp tục đi xuống.