|
Vàng miếng SJC |
Khu vực |
Phiên ngày 7/10 |
Phiên ngày 6/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
140,00 |
143,00 |
140,50 |
143,50 |
-500 |
-500 |
|
Hệ thống Doji |
Hà Nội |
140,50 |
143,50 |
140,50 |
143,50 |
- |
- |
|
TP HCM |
140,50 |
143,50 |
140,50 |
143,50 |
- |
- |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
139,50 |
143,00 |
140,00 |
143,50 |
-500 |
-500 |
|
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
TP HCM |
140,50 |
143,50 |
140,50 |
143,50 |
- |
- |
|
Hà Nội |
140,50 |
143,50 |
140,50 |
143,50 |
- |
- |
|
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
139,20 |
143,20 |
139,30 |
143,50 |
-100 |
-300 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
141,50 |
143,00 |
141,50 |
143,00 |
- |
- |
Vàng miếng tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Giá vàng miếng SJC phiên 7/10 không còn giữ trạng thái ổn định khi một số doanh nghiệp hạ tới 500.000 đồng/lượng, trong khi DOJI, PNJ và Mi Hồng vẫn neo giá so với phiên trước.
Tại Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn, giá mua vào và bán ra cùng giảm 500.000 đồng/lượng, xuống còn 140 triệu đồng/lượng và 143 triệu đồng/lượng.
Trái lại, DOJI không điều chỉnh tại cả Hà Nội và TP HCM. Giá vàng miếng SJC tiếp tục được niêm yết ở mức 140,5 triệu đồng/lượng mua vào và 143,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Ở Phú Quý, giá giảm mạnh 500.000 đồng/lượng theo cả hai chiều, đưa mức giao dịch về 139,5 triệu đồng/lượng mua vào và 143 triệu đồng/lượng bán ra.
PNJ giữ nguyên giá tại Hà Nội và TP HCM, tương ứng 140,5 triệu đồng/lượng ở chiều mua và 143,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán.
Trong khi đó, Bảo Tín Minh Châu điều chỉnh nhẹ hơn khi giảm 100.000 đồng/lượng ở chiều mua và 300.000 đồng/lượng ở chiều bán, xuống còn 139,2 triệu đồng/lượng và 143,2 triệu đồng/lượng.
Riêng Mi Hồng vẫn đứng ngoài nhịp điều chỉnh, giữ giá mua ở 141,5 triệu đồng/lượng và bán ra 143 triệu đồng/lượng.
|
Vàng nhẫn tròn trơn |
Phiên ngày 7/10 |
Phiên ngày 6/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
|
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
|||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
139,50 |
142,50 |
140,00 |
143,00 |
-500 |
-500 |
|
Tập đoàn Doji |
139,30 |
143,30 |
139,50 |
143,50 |
-200 |
-200 |
|
Tập đoàn Phú Quý |
139,50 |
142,50 |
140,00 |
143,00 |
-500 |
-500 |
|
Vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
140,00 |
143,00 |
140,30 |
143,30 |
-300 |
-300 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
139,20 |
143,20 |
139,30 |
143,30 |
-100 |
-100 |
|
Mi Hồng |
141,50 |
143,00 |
141,50 |
143,00 |
- |
- |
Vàng nhẫn trơn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Khác với vàng miếng, giá vàng nhẫn phiên hôm nay chịu áp lực giảm rõ hơn khi 5 trong 6 thương hiệu khảo sát đồng loạt hạ giá, mức giảm mạnh nhất lên tới nửa triệu đồng mỗi lượng.
Tại SJC, giá vàng nhẫn giảm 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, còn 139,5 triệu đồng/lượng mua vào và 142,5 triệu đồng/lượng bán ra.
DOJI điều chỉnh thấp hơn, giảm 200.000 đồng/lượng, đưa giá mua xuống 139,3 triệu đồng/lượng và bán ra còn 143,3 triệu đồng/lượng.
Cùng chịu mức giảm sâu, Phú Quý hạ 500.000 đồng/lượng ở cả chiều mua và bán, hiện giao dịch tại 139,5 triệu đồng/lượng và 142,5 triệu đồng/lượng.
Tại PNJ, giá vàng nhẫn giảm 300.000 đồng/lượng, xuống 140 triệu đồng/lượng mua vào và 143 triệu đồng/lượng bán ra.
Bảo Tín Minh Châu giảm nhẹ nhất trong nhóm, mất 100.000 đồng/lượng ở mỗi chiều, đưa giá về 139,2 triệu đồng/lượng mua vào và 143,2 triệu đồng/lượng bán ra.
Riêng Mi Hồng tiếp tục giữ giá tại 141,5 triệu đồng/lượng mua vào và 143 triệu đồng/lượng bán ra, trở thành thương hiệu hiếm hoi không chạy theo nhịp giảm của thị trường.
Ảnh minh hoạ: Minh Thư
|
Vàng nữ trang 24K |
Khu vực |
Phiên ngày 7/10 |
Phiên ngày 6/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
137 |
141,5 |
137,5 |
142 |
-500 |
-500 |
|
Tập đoàn Doji |
Hà Nội |
138,5 |
141,5 |
138,5 |
141,5 |
- |
- |
|
TP HCM |
138,5 |
141,5 |
138,5 |
141,5 |
- |
- |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
136,50 |
141,50 |
137,00 |
142,00 |
-500 |
-500 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
136,50 |
141,50 |
137,00 |
142,00 |
-500 |
-500 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
138,20 |
142,20 |
137,30 |
142,30 |
+900 |
-100 |
Vàng 24K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 13h00. (Tổng hợp: Minh Thư)
Thị trường giá vàng 24K xuất hiện diễn biến đáng chú ý khi phần lớn thương hiệu giảm hoặc đứng yên, nhưng Bảo Tín Minh Châu lại tăng mạnh chiều mua tới 900.000 đồng/lượng.
Tại SJC, vàng 24K giảm đồng loạt 500.000 đồng/lượng, xuống 137 triệu đồng/lượng mua vào và 141,5 triệu đồng/lượng bán ra.
DOJI giữ nguyên giá tại cả Hà Nội và TP HCM, tiếp tục niêm yết 138,5 triệu đồng/lượng mua vào và 141,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Ở Phú Quý, giá mua và bán cùng giảm 500.000 đồng/lượng, hiện ở mức 136,5 triệu đồng/lượng và 141,5 triệu đồng/lượng.
PNJ cũng hạ 500.000 đồng/lượng ở hai chiều, đưa giá mua về 136,5 triệu đồng/lượng và giá bán còn 141,5 triệu đồng/lượng.
Đi ngược thị trường, Bảo Tín Minh Châu nâng giá mua vàng 24K tới 900.000 đồng/lượng, lên 138,2 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, giá bán lại giảm 100.000 đồng/lượng, xuống 142,2 triệu đồng/lượng.
|
Vàng nữ trang 18K |
Khu vực |
Phiên ngày 7/10 |
Phiên ngày 6/10 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
96,486 |
106,286 |
96,861 |
106,661 |
-375 |
-375 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
96,23 |
106,13 |
96,60 |
106,50 |
-370 |
-370 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
95,00 |
98,00 |
94,50 |
97,50 |
+500 |
+500 |
Vàng 18K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 13h00. (Tổng hợp: Minh Thư)
Giá vàng 18K không cùng chung một hướng khi SJC và PNJ đồng loạt giảm, còn Mi Hồng bất ngờ tăng nửa triệu đồng/lượng ở cả hai chiều.
Tại SJC, giá vàng 18K giảm 375.000 đồng/lượng, hiện mua vào ở 96,486 triệu đồng/lượng và bán ra ở 106,286 triệu đồng/lượng.
PNJ cũng điều chỉnh đi xuống nhưng mức giảm thấp hơn, mất 370.000 đồng/lượng ở cả chiều mua và bán. Sau điều chỉnh, giá được niêm yết tại 96,23 triệu đồng/lượng mua vào và 106,13 triệu đồng/lượng bán ra.
Trái chiều hoàn toàn, Mi Hồng tăng 500.000 đồng/lượng ở cả hai phía, đưa giá mua lên 95 triệu đồng/lượng và giá bán lên 98 triệu đồng/lượng.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay giảm 0,72% còn 4.132,90 USD/ounce theo Kitco; tương tự, giá vàng giao tháng 10 cũng giảm còn 4.134,22 USD/ounce, ghi nhận vào lúc 13h40.
Quy đổi theo giá USD của ngân hàng Vietcombank (26.170 đồng), giá vàng thế giới tương đương 130,3 triệu đồng/lượng, thấp hơn 13,2 triệu đồng/lượng so với giá vàng trong nước.
Bộ Năng lượng Mỹ cho biết sẽ đưa thêm tối đa 40 triệu thùng dầu từ Kho Dự trữ Dầu mỏ Chiến lược (SPR) ra thị trường trong bối cảnh giá nhiên liệu tăng mạnh, đồng thời kêu gọi các nước châu Âu thực hiện cam kết giải phóng dự trữ.
Giá lúa gạo hôm nay tăng nhẹ ở nhóm phụ phẩm và tiếp tục giảm đối với gạo nguyên liệu. Trong 9 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 6,36 triệu tấn gạo, trị giá gần 3,06 tỷ USD, giảm 6,7% về lượng và 12,3% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.
Lượng dầu nhập khẩu từ Iran trong tháng 9 giảm gần một nửa so với cùng kỳ năm trước xuống mức thấp nhất kể từ tháng 1/2023 khiến các nhà máy lọc dầu của Trung Quốc phải tìm nguồn thay thế từ Iraq và Qatar.
Giá gas trong nước hôm nay 7/10 tiếp tục ổn định ở mặt bằng cao, chưa ghi nhận thêm điều chỉnh sau đợt tăng mạnh đầu tháng 10. Giá bình 12kg dao động từ 580.000 đến 647.352 đồng/bình, trong đó Hải Phòng cao nhất, còn Cần Thơ thấp nhất, chênh lệch 67.352 đồng/bình.