|
Vàng miếng SJC |
Khu vực |
Phiên hôm nay 9/4 |
Phiên hôm 8/4 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
168,50 |
171,50 |
171,00 |
175,00 |
-2.500 |
-3.500 |
|
Hệ thống Doji |
Hà Nội |
168,50 |
171,50 |
171,00 |
175,00 |
-2.500 |
-3.500 |
|
TP HCM |
168,50 |
171,50 |
171,00 |
175,00 |
-2.500 |
-3.500 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
168,30 |
171,50 |
171,00 |
175,00 |
-2.700 |
-3.500 |
|
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
TP HCM |
168,50 |
171,50 |
171,00 |
175,00 |
-2.500 |
-3.500 |
|
Hà Nội |
168,50 |
171,50 |
171,00 |
175,00 |
-2.500 |
-3.500 |
|
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
168,50 |
171,50 |
171,00 |
175,00 |
-2.500 |
-3.500 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
169,50 |
171,50 |
172,00 |
174,00 |
-2.500 |
-2.500 |
Vàng miếng tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 13h40. (Tổng hợp: Du Y)
Sau nhịp tăng mạnh trong phiên chiều hôm qua, thị trường vàng miếng SJC chiều 9/4 bất ngờ đảo chiều giảm sâu tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Khảo sát vào khoảng 13h40, giá vàng miếng SJC tại Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC), Tập đoàn Doji, hệ thống PNJ và Bảo Tín Minh Châu đồng loạt được điều chỉnh giảm 2,5 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 3,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra. Sau điều chỉnh, giá giao dịch phổ biến lùi về mức 168,5 - 171,5 triệu đồng/lượng.
Tại Tập đoàn Phú Quý, giá vàng miếng SJC giảm mạnh hơn ở chiều mua vào, với mức giảm 2,7 triệu đồng/lượng, trong khi chiều bán ra giảm 3,5 triệu đồng/lượng. Hiện doanh nghiệp này niêm yết giá vàng miếng SJC ở mức 168,3 - 171,5 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, hệ thống Mi Hồng điều chỉnh giảm 2,5 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, đưa giá vàng miếng SJC xuống còn 169,5 - 171,5 triệu đồng/lượng.
Diễn biến này cho thấy thị trường vàng trong nước đang biến động rất mạnh, đặc biệt ở nhóm vàng miếng sau chuỗi phiên tăng - giảm với biên độ lớn.
|
Vàng nhẫn tròn trơn |
Phiên hôm nay 9/4 |
Phiên hôm 8/4 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
|
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
|||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
168,00 |
171,00 |
170,50 |
174,50 |
-2.500 |
-3.500 |
|
Tập đoàn Doji |
168,50 |
171,50 |
171,00 |
175,00 |
-2.500 |
-3.500 |
|
Tập đoàn Phú Quý |
168,00 |
171,00 |
171,00 |
174,00 |
-3.000 |
-3.000 |
|
Vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
168,00 |
171,00 |
171,00 |
174,50 |
-3.000 |
-3.500 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
167,50 |
171,50 |
171,20 |
174,20 |
-3.700 |
-2.700 |
|
Mi Hồng |
169,50 |
171,50 |
172,00 |
174,00 |
-2.500 |
-2.500 |
Vàng nhẫn trơn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 13h40. (Tổng hợp: Du Y)
Không nằm ngoài xu hướng điều chỉnh chung của thị trường, giá vàng nhẫn tròn trơn trong chiều 9/4 cũng đồng loạt lao dốc sau giai đoạn tăng nóng.
Tại Công ty SJC và Tập đoàn Doji, giá vàng nhẫn được điều chỉnh giảm 2,5 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 3,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra. Sau điều chỉnh, giá vàng nhẫn lần lượt xuống mức 168 - 171 triệu đồng/lượng và 168,5 - 171,5 triệu đồng/lượng.
Ở chiều tương tự, Tập đoàn Phú Quý giảm đồng thời 3 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán, đưa giá vàng nhẫn về mức 168 - 171 triệu đồng/lượng.
Tại PNJ, giá vàng nhẫn cũng giảm mạnh khi đồng loạt mất 3 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 3,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra, hiện giao dịch ở mức 168 - 171 triệu đồng/lượng.
Đáng chú ý, Bảo Tín Minh Châu là đơn vị có mức điều chỉnh mạnh nhất ở chiều mua vào, khi giảm tới 3,7 triệu đồng/lượng, trong khi chiều bán ra giảm 2,7 triệu đồng/lượng. Sau điều chỉnh, giá vàng nhẫn tại đây lùi về 167,5 - 171,5 triệu đồng/lượng.
Cùng xu hướng, Mi Hồng cũng giảm 2,5 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, đưa giá vàng nhẫn xuống còn 169,5 - 171,5 triệu đồng/lượng.
So với phiên trước, mặt bằng giá vàng nhẫn hiện đã thu hẹp đáng kể mức tăng, phản ánh áp lực điều chỉnh mạnh sau giai đoạn tăng quá nhanh.
Ảnh minh hoạ: Du Y.
|
Vàng nữ trang 24K |
Khu vực |
Phiên hôm nay 9/4 |
Phiên hôm 8/4 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
166,00 |
169,50 |
168,50 |
173,00 |
-2.500 |
-3.500 |
|
Tập đoàn Doji |
Hà Nội |
165,50 |
169,50 |
168,80 |
172,80 |
-3.300 |
-3.300 |
|
TP HCM |
165,50 |
169,50 |
168,80 |
172,80 |
-3.300 |
-3.300 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
166,00 |
170,00 |
169,50 |
173,50 |
-3.500 |
-3.500 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
165,50 |
169,50 |
169,00 |
173,00 |
-3.500 |
-3.500 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
166,50 |
170,50 |
169,20 |
173,20 |
-2.700 |
-2.700 |
Vàng 24K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 13h40. (Tổng hợp: Du Y)
Ở nhóm vàng nữ trang 24K, thị trường chiều nay cũng ghi nhận đà giảm mạnh trở lại tại hầu hết các hệ thống kinh doanh vàng lớn, chỉ sau một phiên bật tăng đáng kể.
Trong đó, Tập đoàn Phú Quý và hệ thống PNJ là hai đơn vị điều chỉnh mạnh nhất khi cùng giảm tới 3,5 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra. Sau điều chỉnh, giá vàng nữ trang 24K tại hai hệ thống này lần lượt được niêm yết ở mức 166 - 170 triệu đồng/lượng và 165,5 - 169,5 triệu đồng/lượng.
Tại Công ty SJC, giá vàng nữ trang 24K giảm 2,5 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 3,5 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra, lùi xuống vùng 166 - 169,5 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn Doji cũng điều chỉnh giảm mạnh mặt hàng này, với mức giảm 3,3 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, hiện giao dịch ở mức 165,5 - 169,5 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, hệ thống Bảo Tín Minh Châu giảm đồng đều 2,7 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua và bán, đưa giá vàng nữ trang 24K xuống còn 166,5 - 170,5 triệu đồng/lượng.
Diễn biến giảm đồng loạt ở nhóm vàng 24K cho thấy áp lực chốt lời và điều chỉnh giá đang diễn ra trên diện rộng sau phiên tăng mạnh trước đó.
|
Vàng nữ trang 18K |
Khu vực |
Phiên hôm nay 9/4 |
Phiên hôm 8/4 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
118,39 |
127,29 |
121,01 |
129,91 |
-2.630 |
-2.630 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
118,23 |
127,13 |
120,85 |
129,75 |
-2.620 |
-2.620 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
109,50 |
113,50 |
111,00 |
115,00 |
-1.500 |
-1.500 |
Vàng 18K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 13h40. (Tổng hợp: Du Y)
Bên cạnh vàng miếng, vàng nhẫn và vàng 24K, phân khúc vàng nữ trang 18K trong chiều 9/4 cũng ghi nhận xu hướng giảm rõ rệt tại nhiều hệ thống kinh doanh vàng.
Theo khảo sát, Công ty SJC điều chỉnh giảm 2,63 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, đưa giá vàng 18K xuống mức 118,39 - 127,29 triệu đồng/lượng.
Tại hệ thống PNJ, giá vàng 18K cũng giảm 2,62 triệu đồng/lượng mỗi chiều, hiện được niêm yết ở mức 118,23 - 127,13 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, hệ thống Mi Hồng giảm nhẹ hơn, với mức giảm 1,5 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua và bán, đưa giá mặt hàng này xuống còn 109,5 - 113,5 triệu đồng/lượng.
Dù mức giảm không quá mạnh như vàng miếng hay vàng nhẫn, nhưng việc vàng nữ trang 18K đồng loạt đi xuống vẫn cho thấy xu hướng điều chỉnh đang bao trùm toàn bộ thị trường vàng trong nước.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay giảm 0,17% xuống 4.710 USD/ounce theo Kitco, trong khi giá vàng giao tháng 6 giảm 0,86% xuống 4.736 USD/ounce, ghi nhận vào lúc 13h57.
Quy đổi theo giá USD của ngân hàng Vietcombank (26.357 đồng), giá vàng thế giới tương đương 149,5 triệu đồng/lượng, thấp hơn 22 triệu đồng/lượng so với giá vàng trong nước.
Tại cuộc họp báo mới đây, đại diện Bộ Công Thương đã khẳng định nguồn cung xăng dầu trong nước vẫn được đảm bảo dù thị trường quốc tế có nhiều biến động.
Giá tất cả các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường (trừ dầu hoả) đều giảm mạnh trong chiều nay.
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thống nhất trình Quốc hội xem xét, quyết định điều chỉnh các sắc thuế đối với xăng dầu và nhiên liệu bay đến hết ngày 30/6.
Giá gas hôm nay nhìn chung duy trì mức ổn định tại hầu hết các thương hiệu và khu vực, ngoại trừ bình 12kg tại Hà Nội ghi nhận mức tăng nhẹ 1.000 đồng. Hiện tại, giá đổi bình 12kg có sự phân hóa rõ rệt theo địa phương, dao động từ mức thấp nhất là 550.000 đồng tại Cần Thơ cho đến cao nhất là 660.081 đồng của PV GAS tại TP.HCM.