CBAM có hiệu lực, doanh nghiệp thép nào phải trả nhiều phí carbon?

Từ năm 2026, EU chính thức áp dụng cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), kéo theo chi phí carbon đối với thép nhập khẩu. Với mức phát thải còn cao, xuất khẩu thép Việt Nam sang EU được dự báo sẽ chịu áp lực đáng kể.

Xuất khẩu có thể giảm sút

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) được triển khai từ ngày 1/1/2026 và điều này tác động lớn đến các quốc gia xuất khẩu thép sang EU, trong đó có Việt Nam. 

Theo CBAM, các mặt hàng nhập khẩu  vào EU sẽ bị áp thuế dựa trên mức giá carbon mà hàng hóa tương đương trong EU phải trả, trừ khi hàng nhập khẩu đã chịu một mức giá carbon nhất định tại nước xuất khẩu. EU cho rằng cơ chế này sẽ ngăn ngừa “rò rỉ carbon” và thúc đẩy các nước xuất khẩu tự xây dựng hệ thống định giá carbon, theo Nikkei Asia

Cơ chế này được áp dụng chính thức từ năm 2026 và có lộ trình chuyển đổi kéo dài đến năm 2034. Theo đó, mỗi năm EU sẽ dần cắt giảm tỷ lệ phân bổ miễn phí, dựa trên các tiêu chuẩn phát thải benchmark của khu vực này.

Chẳng hạn, trong năm 2026, tỷ lệ miễn thuế theo CBAM dựa trên benchmark của EU là 97,5%. Bước sang năm 2027 tỷ lệ này giảm xuống còn 95%, 2028 là 90%, 2029 là 77,5% và đến năm 2034 là 0%.

Khử carbon trong ngành thép là thách thức lớn, một phần do yêu cầu nhiệt độ cực cao và chi phí của các giải pháp năng lượng phi hóa thạch. Tuy vậy, lộ trình tiến tới phát thải ròng bằng 0 vẫn được xác định dựa trên điện khí hóa, sử dụng hydro, tăng cường tái chế và công nghệ thu giữ carbon.

Lượng phát thải của nhiều nước xuất khẩu thép vào EU vẫn còn khá lớn. Điển hình như Ấn Độ, ngành thép nước này vẫn phụ thuộc nặng nề vào than, phát thải 2,55 tấn CO2 cho mỗi tấn thép thô—cao hơn 31% so với mức trung bình toàn cầu. Điều này có thể khiến các doanh nghiệp như Tata Steel và Jindal Stainless gặp bất lợi tại thị trường châu Âu khi CBAM có hiệu lực.

Còn tại Trung Quốc, công ty tư vấn GMK Center dẫn nhận định từ ông Jingzhe Liu, Quản lý phát triển dự án tại Jingzhe Environment & Climate, đại diện nhóm nghiên cứu CBAM cho biết  lượng phát thải trực tiếp tại các nhà máy thép Trung Quốc là 2,1 tấn CO2 tương đương cho mỗi tấn thép.

Tại Việt Nam, Văn phòng Sản xuất và tiêu dùng bền vững (Bộ Công Thương) dẫn lời ôngMã Khai Hiền, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển về Tiết kiệm Năng lượng (Enerteam) cho biết tỷ lệ phát thải khí nhà kính trung bình của ngành thép trong nước đang cao hơn mức trung bình của thế giới từ 23 - 30%. Cụ thể, mức phát thải trung bình trong ngành thép của Việt Nam hiện đang ở mức 2,51 tấn CO2/tấn thép thô trong khi mức trung bình của thế giới là 1,85 tấn CO2/tấn thép thô.

Lượng phát thải khí nhà kính trong ngành thép tăng trung bình 9% giai đoạn 2016 - 2030 từ 178 triệu tấn CO2 năm 2015 lên 646 triệu tấn năm 2030, dự kiến gần 1,4 tỷ tấn vào năm 2050.

Trao đổi với chúng tôi, ông Phạm Công Thảo – Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Thép Việt Nam (VNSTEEL), Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cho biết theo tính toán của một số tổ chức quốc tế, đối với Việt Nam, nếu áp dụng mức phát thải mặc định mà EU đang xây dựng, các sản phẩm thép xuất khẩu như thép cán nguội, cán nóng hay tôn mạ có thể phải chịu chi phí carbon khoảng 70–80 USD/tấn.

Theo ông Thảo, ngay cả các nhà sản xuất thép tại EU cũng sẽ phải chịu chi phí CBAM nếu không đáp ứng được các tiêu chuẩn phát thải. Tuy nhiên, do EU là khu vực đi đầu trong việc áp dụng các tiêu chuẩn phát thải, các doanh nghiệp nội khối sẽ chịu mức chi phí thấp hơn.

Đối với Việt Nam, chi phí carbon này sẽ được cộng thêm vào giá bán, làm tăng khoảng 70–80 USD/tấn đối với các sản phẩm thép cán dẹt xuất khẩu sang EU.

“Chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu thép của Việt Nam”, ông nói.

Ông Thảo cho biết xuất khẩu thép trong năm nay đã sụt giảm rất mạnh, ước tính giảm khoảng 25% so với giai đoạn trước. Đối với thị trường EU, ông Thảo nhận định rằng ngay cả khi chưa tính đến cơ chế CBAM, xuất khẩu thép của Việt Nam sang khu vực này cũng đã giảm rất sâu.

Theo ông, dự kiến trong năm nay, xuất khẩu sang EU giảm khoảng 38% so với năm trước. Tỷ trọng xuất khẩu sang EU từng chiếm khoảng 26%, nhưng hiện nay đã giảm xuống còn khoảng 20% trong tổng xuất khẩu thép.

 Nguồn: Cục Hải quan Việt Nam (H.Mĩ tổng hợp)

Theo ông Thảo, EU đang sử dụng nhiều công cụ khác nhau để hạn chế hàng nhập khẩu, bao gồm các biện pháp phòng vệ thương mại như chống bán phá giá, chống trợ cấp.

Bên cạnh đó, EU cũng đang nghiên cứu phương án cắt giảm hạn ngạch nhập khẩu thép, với mức đề xuất có thể lên tới 50%.

Dù chính sách này hiện chưa được thông qua và vẫn chưa có quyết định chính thức, nhưng nếu được áp dụng, sẽ gây tác động đáng kể đến khả năng xuất khẩu thép của Việt Nam.

Tác động với các doanh nghiệp là khác nhau

EU đã xây dựng lộ trình rõ ràng từ nay đến năm 2034 và để tiếp tục thâm nhập thị trường này, các doanh nghiệp thép Việt Nam buộc phải sớm nghiên cứu và triển khai các giải pháp giảm phát thải.

Ở góc độ trong nước, Việt Nam đã đặt mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, tức còn khoảng 25 năm để thực hiện quá trình chuyển đổi. Do đó, ngành thép đang có những bước đi phù hợp nhằm vừa đáp ứng yêu cầu xuất khẩu, vừa đáp ứng mục tiêu Net Zero của quốc gia.

Ông Thảo cho biết trên thực tế nếu nhìn vào cơ cấu xuất khẩu, có thể thấy thép Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các sản phẩm dẹt nhiều hơn so với các sản phẩm dài. Nhóm sản phẩm dẹt bao gồm thép cuộn cán nóng, thép cuộn cán nguội và tôn mạ – tức các sản phẩm có khổ rộng.

Đối với cán nóng, thường được sản xuất theo quy trình đi từ quặng, sử dụng lò cao. Đây là quy trình có mức phát thải nhiều. Trong khi đó, quy trình sản xuất sử dụng phế liệu, tức quy trình tái chế bằng lò điện, lại chủ yếu sản xuất các sản phẩm dài. Các sản phẩm dài vì vậy thường có mức phát thải thấp hơn so với các sản phẩm dẹt.

Tuy nhiên, riêng một số doanh nghiệp sản xuất thép bằng lò cao thời gian qua cũng đã áp dụng công nghệ để giảm phát thải.

Tại Hoà Phát, doanh nghiệp tận dụng nguồn nhiệt và khí dư phát sinh trong quá trình luyện coke, luyện gang, thép để phát điện. Việc tái tạo năng lượng từ nguồn nhiệt, khí dư không sử dụng nhiên liệu hóa thạch giúp giảm chi phí sản xuất, đồng thời giúp giảm phát thải carbon. Theo công bố từ doanh nghiệp này, từ tháng 7/2019, sản lượng điện của nhà máy liên tục tăng trưởng.

Kết thúc năm 2025, Nhà máy Nhiệt điện đạt sản lượng hơn 3,3 tỷ kWh, đáp ứng trên 90% nhu cầu điện cho sản xuất gang thép. Sau khoảng 8 năm vận hành, tổng sản lượng điện phát từ nhà máy khoảng 13 tỷ kWh.

Đối với VNSTEEL, 82% thép thô được sản xuất từ lò điện và 18% từ lò cao, theo Văn phòng Sản xuất và tiêu dùng bền vững. Việc sản xuất tập trung vào các sản phẩm hạ nguồn giúp lượng phát thải ra môi trường của doanh nghiệp không cao so với bình quân toàn ngành. 

Văn phòng Sản xuất và tiêu dùng bền vững cũng dẫn ví dụ của một số doanh nghiệp khác như Thép Toàn Thắng, Thép Việt Ý.

Theo đó, tại Thép Việt Ý, đặc thù của Công ty là dùng phôi sau đó dùng nhiên liệu đốt lò để sản xuất ra thép xây dựng, quá trình này phát sinh khói thải ra môi trường. Sau thời gian theo dõi và quan trắc nhận thấy lượng khí SO2 và nồng độ bụi NOx vượt ngưỡng quy định cho phép. Do đó, năm 2022 Công ty đã đầu tư trạm để xử lý khói thải lò nung.  Điều này giúp nồng độ khí SO2 phát thải giảm được 10 lần. 

Ngoài ra, toàn bộ lượng nước trong quá trình xử lý khói thải đều được nhà máy tuần hoàn theo hình thức lượng nước thải sẽ được đưa về bể và lắng đọng thành dạng bùn, sau đó được bơm lên máy lọc để tách tạp chất. Lượng nước sau xử lý được nhà máy tuần hoàn tái sử dụng lại cho quá trình xử lý khói thải.

Còn với Cổ phần Thép Toàn Thắng, doanh nghiệp sử dụng một lượng lớn điện, than cốc, khí để sản xuất. Để tiết kiệm năng lượng, công ty đã tận dụng nhiệt hóa học của dây chuyền sản xuất phôi thép để luyện thép. Đồng thời, doanh nghiệp chọn lọc nguồn nguyên liệu đầu vào đảm bảo chất lượng và yêu cầu công nghệ để chỉ số phát thải ra môi trường được thấp nhất.

Bên cạnh đó, công ty cũng lắp thiết bị quan trắc tự động, chủ động kiểm soát được các chỉ số phát thải trong quá trình sản xuất để khắc phục kịp thời.

Ông Thảo cho rằng trong bối cảnh các quy định về môi trường ngày càng chặt chẽ, đây được xem là một cơ hội đối với những doanh nghiệp đang sử dụng công nghệ tái chế, công nghệ lò điện. Theo ông Thảo, các doanh nghiệp này có thể đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm dài sang thị trường quốc tế nhờ lợi thế về phát thải thấp.

Ngược lại, đối với các doanh nghiệp có mức phát thải cao (thông thường sử dụng lò cao) lại có lợi thế chi phí thấp nhờ quy mô. Trong quá trình chuyển đổi, cơ chế CBAM cũng được áp dụng theo lộ trình, với mức phí phải nộp tăng dần theo thời gian, chứ không tăng đột ngột ngay lập tức.

Do đó, trong giai đoạn đầu, các doanh nghiệp có mức phát thải cao vẫn có thể tiếp tục xuất khẩu, bởi họ có khả năng đáp ứng các chi phí. Các doanh nghiệp cũng có thể mua thêm chứng chỉ carbon của EU để bù đắp phần phát thải.

Tuy nhiên, theo ông Thảo, về dài hạn, để tiếp tục thâm nhập các thị trường này, các doanh nghiệp thép buộc phải thực hiện chuyển đổi công nghệ. Bản thân các công nghệ giảm phát thải hiện nay vẫn đang trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện, ngay cả tại EU. Những công nghệ mới này cần thời gian để chứng minh hiệu quả kinh tế.

Chia sẻ với chúng tôi, bà Võ Thị Ngọc Hân, CFA – Giám đốc Nghiên cứu Cấp cao, Ngành Sản xuất Công nghiệp - công nghệ, CTCP Chứng khoán TP.HCM (HSC) cho rằng cần doanh nghiệp thép cần theo dõi mức độ thực hiện CBAM của EU ra sao.

“Về lâu dài, hiện chưa rõ EU có thực hiện một cách nghiêm ngặt quy định này hay không, nhưng chúng ta có thể kỳ vọng khối này sẽ có những tinh chỉnh chính sách sao cho phù hợp với điều kiện hiện tại. Để chuyển đổi công nghệ rất tốn kém trong khi nếu giá thép quá đắt thì người dân Châu Âu cũng khó lòng chi trả được. Do đó, tiêu chuẩn “xanh” có thể thay đổi. Các doanh nghiệp cũng có đủ thời gian để điều chỉnh, đáp ứng với nhu cầu”, bà Hân nói. 

Đồng thời bà cũng cho biết mức độ ảnh hưởng của chính sách này đối với từng doanh nghiệp khác nhau dựa trên cơ cấu sản phẩm, công nghệ sản xuất thép và tỷ trọng xuất khẩu sang EU. 

“Trong tổng sản lượng xuất khẩu, tỷ trọng bán hàng sang EU của Hoa Sen là 40%, Nam Kim 30%, Hoà Phát 19%. Nếu xét trên quy mô tổng doanh số bán hàng EU chiếm 15% của Hoa Sen, 10% Nam Kim và khoảng 3% với Hoà Phát”, bà Hân cho biết. 

Tuy nhiên, bà cũng lưu ý rằng vì CBAM áp dụng cho tất cả quốc gia bán hàng vào EU, do đó mức độ ảnh hưởng còn phụ thuộc vào cách quản trị của từng doanh nghiệp. 

H.Mĩ
CÙNG CHUYÊN MỤC
Bộ Công Thương gia hạn biện pháp chống bán phá giá thép cán nguội Trung Quốc

Bộ Công Thương vừa ban hành Quyết định số 3765⁄QĐ-BCT về kết quả rà soát cuối kỳ việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với một số sản phẩm thép cán nguội (ép nguội) có xuất xứ từ Trung Quốc.

Xuất khẩu ớt kỷ lục đạt hơn 2.600 tỷ đồng

Sau 11 tháng, ớt Việt mang về 102 triệu USD, tăng hơn 20% so với cùng kỳ, vươn lên dẫn dắt nhóm rau củ xuất khẩu.

Giá lúa gạo hôm nay 2/1: Ấn Độ tăng lên mức cao nhất ba tháng, Việt Nam và Thái Lan đi ngang

Giá gạo hôm nay tại thị trường trong nước vẫn ổn định. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo của Ấn Độ đã tăng lên mức cao nhất trong gần ba tháng vào tuần này, do giá lúa trong nước tăng cao, trong khi các thương nhân tại Thái Lan và Việt Nam lo ngại về nhu cầu toàn cầu có thể tiếp tục trầm lắng.

Giá vàng nối tiếp đà tăng chưa từng có của năm 2025

Thị trường kim loại quý khởi đầu năm mới với diễn biến tích cực trong phiên giao dịch ngày thứ Sáu (2/1), nối lại đà tăng chưa từng có của năm 2025, trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị và kỳ vọng lãi suất giảm trong năm nay tiếp tục duy trì nhu cầu đối với các tài sản trú ẩn an toàn.

QUẢNG CÁO
QUẢNG CÁO