Khảo sát giá gas ngày 21/7/2026 cho thấy các khu vực được theo dõi vẫn duy trì mức niêm yết như kỳ cập nhật trước, chưa xuất hiện biến động ở cả bình 12kg và bình 48kg. Theo đó, giá bình 12kg hiện phổ biến từ 483.000 đồng đến 522.000 đồng/bình, còn bình 48kg dao động trong khoảng 1.874.000 - 2.084.000 đồng/bình.
Tại miền Bắc, Hà Nội đang áp dụng mức 502.200 đồng/bình 12kg và 2.008.800 đồng/bình 48kg. Trong khi đó, Hải Phòng có giá lần lượt là 489.888 đồng/bình 12kg và 1.959.552 đồng/bình 48kg.
Ở miền Trung, Đà Nẵng tiếp tục duy trì mức giá 483.000 đồng/bình 12kg và 1.874.000 đồng/bình 48kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.
Đối với miền Nam, TP HCM hiện niêm yết 522.000 đồng/bình 12kg và 2.084.000 đồng/bình 48kg, trong khi Cần Thơ ghi nhận 485.000 đồng/bình 12kg và 1.940.000 đồng/bình 48kg.
Nhìn chung, bảng giá gas bán lẻ theo khu vực hôm nay chưa có sự thay đổi, với khoảng chênh 39.000 đồng/bình 12kg giữa địa phương có giá cao nhất là TP HCM và thấp nhất là Đà Nẵng.
|
Ngày 21/07/2026 |
Chênh lệch |
||||
|
Khu vực |
Bình 12kg |
Bình 48kg |
Bình 12kg |
Bình 48kg |
|
|
Miền Bắc |
Hà Nội |
502.200 |
2.008.800 |
- |
- |
|
Hải Phòng |
489.888 |
1.959.552 |
- |
- |
|
|
Miền trung |
Đà Nẵng |
483.000 |
1.874.000 |
- |
- |
|
Miền Nam |
TP HCM |
522.000 |
2.084.000 |
- |
- |
|
Cần Thơ |
485.000 |
1.940.000 |
- |
- |
|
Bảng giá gas từng khu vực ngày 21/7/2026 được cập nhật lúc 10h20. (Tổng hợp: Gia Ngọc)
Khảo sát thị trường ngày 21/7/2026 cho thấy các thương hiệu gas lớn tiếp tục giữ nguyên mức niêm yết, chưa có doanh nghiệp nào điều chỉnh giá bán. Hiện giá bình 12kg trên thị trường dao động từ 502.200 đồng đến 612.000 đồng/bình, trong khi các dòng bình 45kg và 48kg công nghiệp cũng ổn định.
Tại Petrolimex, giá bình 12kg ở khu vực Hà Nội được duy trì ở mức 502.200 đồng/bình. Đối với dòng bình 48kg gas công nghiệp, doanh nghiệp đang niêm yết 2.008.800 đồng/bình.
SAIGON PETRO tiếp tục áp dụng mức giá 532.500 đồng/bình 12kg, còn bình 45kg được bán với giá 1.997.500 đồng/bình.
Với Pacific Petro, giá bình 12kg vẫn ở mức 612.000 đồng/bình, cao nhất trong các thương hiệu được khảo sát. Dòng bình 45kg của doanh nghiệp này hiện có giá 2.265.500 đồng/bình.
Đối với PV GAS, tại Hà Nội, bình 12kg được niêm yết 538.204 đồng/bình, còn bình 45kg đạt 2.018.265 đồng/bình. Trong khi đó, tại TP HCM, giá lần lượt là 602.081 đồng/bình 12kg và 2.257.789 đồng/bình 45kg, thuộc nhóm cao trên thị trường.
Nhìn chung, giá gas theo thương hiệu hôm nay vẫn giữ trạng thái ổn định. Biên độ giá bình 12kg giữa Petrolimex và Pacific Petro hiện lên tới 109.800 đồng/bình, phản ánh sự khác biệt đáng kể trong mức niêm yết của các doanh nghiệp dù thị trường chưa xuất hiện biến động mới.
|
Ngày 21/07/2026 |
Chênh lệch |
||||||
|
Thương hiệu |
Khu vực |
Bình 12kg |
Bình 45kg |
Bình 48 kg (gas công nghiệp) |
Bình 12kg |
Bình 45kg |
Bình 48 kg (gas công nghiệp) |
|
Petrolimex |
Hà Nội |
502.200 |
- |
2.008.800 |
- |
- |
- |
|
SAIGON PETRO |
532.500 |
1.997.500 |
- |
- |
- |
- |
|
|
Pacific Petro |
612.000 |
2.265.500 |
- |
- |
- |
- |
|
|
PV GAS |
Hà Nội |
538.204 |
2.018.265 |
- |
- |
- |
- |
|
TP HCM |
602.081 |
2.257.789 |
- |
- |
- |
- |
|
Bảng giá gas theo thương hiệu ngày 21/7/2026 được cập nhật lúc 10h20. (Tổng hợp: Gia Ngọc)
Theo oilprice, Trung Quốc đã tăng nhập khẩu khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) tháng thứ hai liên tiếp trong tháng 6, khi quốc gia mua LNG lớn nhất thế giới này chuẩn bị cho nhu cầu điện năng cao điểm mùa hè.
Theo số liệu chính thức từ hải quan công bố hôm thứ Hai, nhập khẩu khí hóa lỏng (LNG) của Trung Quốc đã tăng 8,3% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 5,68 triệu tấn trong tháng Sáu. Đây là tháng thứ hai liên tiếp nhập khẩu LNG của Trung Quốc tăng so với cùng kỳ năm ngoái, sau ba tháng sụt giảm lượng hàng LNG nhập khẩu vào tháng Hai, tháng Ba và tháng Tư.
Nhập khẩu của Trung Quốc bắt đầu phục hồi vào tháng 5, bật tăng từ mức thấp nhất trong tám năm, khi người mua bắt đầu mua nhiều hàng hơn vào giữa tháng 4 và duy trì tốc độ nhập khẩu cao kể từ đó.
Việc Trung Quốc tăng nhập khẩu sẽ khiến thị trường LNG trở nên khan hiếm hơn trong những tháng tới, nhất là khi LNG của Qatar hiện lại bị rút khỏi thị trường do việc đóng cửa eo biển Hormuz trong bối cảnh xung đột leo thang ở Trung Đông.
Giá khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) của châu Á và giá khí đốt chuẩn của châu Âu đã tăng vọt kể từ khi chiến tranh Iran bắt đầu, do việc thiếu nguồn cung từ Qatar đã khiến cuộc cạnh tranh giành nguồn cung thay thế trở nên gay gắt hơn. Châu Á đang thắng thế trong cuộc đua thu hút các lô hàng LNG, khiến châu Âu phải vật lộn tìm kiếm cơ hội để bổ sung khí đốt vào các kho chứa của mình, vốn đã kết thúc mùa sưởi ấm với lượng dự trữ ở mức thấp nhất trong nhiều năm.
Ngoài ra, các nhà nhập khẩu khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) khổng lồ của Trung Quốc được cho là đang đàm phán để đảm bảo nguồn cung LNG dài hạn từ các nhà xuất khẩu không cần đi qua eo biển Hormuz, khi quốc gia mua LNG lớn nhất thế giới tìm cách giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn cung khí đốt từ vùng Vịnh Ba Tư.
Trung Quốc sẽ không tìm cách hủy bỏ các hợp đồng ràng buộc với Qatar, nhưng đang xem xét các lựa chọn để giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn cung từ vùng Vịnh.
Một số khách hàng mua khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) lớn nhất của Trung Quốc, bao gồm PetroChina và Sinopec, đang đàm phán với các nhà xuất khẩu về khả năng giao hàng bắt đầu trước năm 2030 trong thời hạn ít nhất mười năm, các nguồn tin thân cận với kế hoạch này cho biết với Bloomberg hôm thứ Sáu.
Ảnh: Gia Ngọc
Ngành thép của Trung Quốc đang đối mặt với một câu hỏi hóc búa khi cố gắng xác định xem liệu ngành này thực sự suy yếu và tiếp tục đà lao dốc, hay đang hoạt động tương đối mạnh mẽ so với đà tăng trưởng trầm lắng của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, theo Reuters.
Bảng giá vàng hôm nay (21/7) ghi nhận nhịp giảm bao trùm vàng miếng SJC, vàng nhẫn và vàng nữ trang 18K, trong đó Mi Hồng hạ giá mua tới 1,4 triệu đồng/lượng. Riêng vàng 24K biến động ngược chiều giữa các hệ thống khi Phú Quý giảm 1,5 triệu đồng/lượng, còn DOJI tăng 1 triệu đồng/lượng. Cùng lúc, giá vàng thế giới tăng lên 4.079 USD/ounce nhưng vẫn thấp hơn trong nước khoảng 15,7 triệu đồng/lượng.
Giá lúa gạo hôm nay tại thị trường trong nước tiếp tục tăng, với gạo nguyên liệu nhích thêm 100 – 150 đồng/kg. Trong khi đó, Pakistan đối mặt nguy cơ năng suất lúa tại các vùng sản xuất trọng điểm giảm 12% - 22% vào cuối thế kỷ do tác động của biến đổi khí hậu.
VASEP nhận định, với kim ngạch 5,77 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm, xuất khẩu thuỷ sản cả năm hoàn toàn có khả năng vượt 11 tỷ USD.