Các dữ liệu thực tế cho thấy đây là một ngành công nghiệp đang phải vật lộn để duy trì hoạt động.
Theo dữ liệu chính thức được công bố tuần trước, sản lượng thép tháng 6 đạt 83,67 triệu tấn, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm 2025 nhưng giảm nhẹ so với mức 84,36 triệu tấn của tháng 5. Nếu nhìn theo hướng tích cực, tính theo bình quân ngày, sản lượng thép tháng 6 đạt 2,79 triệu tấn/ngày – mức cao nhất kể từ tháng 3 và tăng nhẹ so với mức 2,72 triệu tấn của tháng 5.
Tuy nhiên, sản lượng trong nửa đầu năm 2026 chỉ đạt 499,95 triệu tấn, giảm 3% so với cùng kỳ năm ngoái. Điều này khiến sản lượng thép cả năm 2026 nhiều khả năng sẽ tiếp tục nằm dưới ngưỡng 1 tỷ tấn năm thứ hai liên tiếp, do các nhà máy thường giảm công suất trong nửa cuối năm.
Thách thức đối với ngành thép nằm ở chỗ nền kinh tế Trung Quốc đang tăng trưởng lệch nhịp giữa các lĩnh vực tiêu thụ thép. Xây dựng – ngành chiếm khoảng một phần ba nhu cầu tiêu thụ – vẫn rất yếu kém. Trong nửa đầu năm, đầu tư bất động sản giảm 18% so với cùng kỳ năm 2025, diện tích khởi công xây dựng giảm 23,4% và diện tích sàn bất động sản bán ra giảm 11,6%.
Các dấu hiệu đáng lo ngại khác cũng xuất hiện khi doanh số bán xe hơi giảm 4,1% trong nửa đầu năm, trái ngược với mức tăng 11,4% của cùng kỳ năm 2025.
Lĩnh vực xe điện của Trung Quốc vốn là nhân tố tăng trưởng nổi bật trong những năm gần đây và xuất khẩu tiếp tục duy trì đà tăng nhờ nhu cầu toàn cầu chuyển dịch khỏi xe máy dầu và xe xăng – trong bối cảnh giá cả biến động và nguồn cung bất ổn do căng thẳng tại Iran. Mặc dù vậy, đà tăng trưởng doanh số tại thị trường nội địa đã có dấu hiệu chững lại.
Xuất khẩu hàng chế tạo vẫn giữ được nhịp tăng trưởng, trong đó mặt hàng pin mặt trời ghi nhận mức tăng trong tháng 6 bất chấp việc gỡ bỏ chính sách hoàn thuế xuất khẩu.
Giá thép cũng duy trì ổn định trong phần lớn thời gian của năm qua. Hợp đồng thép thanh vằn tiêu chuẩn trên Sàn giao dịch Tương lai Thượng Hải chốt phiên thứ Hai (20/7) ở mức 3.104 Nhân dân tệ (458,49 USD)/tấn, nằm ở khoảng giữa phạm vi dao động từ 3.051 Nhân dân tệ đến 3.275 Nhân dân tệ từ đầu năm đến nay.
Tồn kho thép thanh vằn tăng lên mức 4,94 triệu tấn trong tuần tính đến ngày 17/7, cao hơn mức 3,72 triệu tấn của cùng kỳ năm 2025, nhưng thấp hơn mức 5,93 triệu tấn của năm 2024 và 5,49 triệu tấn của năm 2023.
Mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị ngành thép chính là quặng sắt. Lượng nhập khẩu tháng 6 tăng lên mức cao nhất trong 6 tháng, đạt 112,69 triệu tấn, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trung Quốc – quốc gia tiêu thụ khoảng 75% lượng quặng sắt đường biển toàn cầu – ghi nhận lượng nhập khẩu tăng 6,3% trong 6 tháng đầu năm, đạt 628,87 triệu tấn.
Sản lượng khai thác nội địa tính theo hàm lượng sắt sụt giảm cùng với nhu cầu tích trữ kho đã thúc đẩy hoạt động nhập khẩu. Theo công ty tư vấn SteelHome, tồn kho quặng sắt tại các cảng giảm xuống 156,6 triệu tấn trong tuần tính đến ngày 17/7, từ mức kỷ lục 166,9 triệu tấn hồi giữa tháng 3. Dù vậy, mức tồn kho này vẫn cao hơn 19,6% so với 130,9 triệu tấn của cùng kỳ năm 2025.
Một yếu tố khác hỗ trợ nhập khẩu quặng sắt là giá cả có xu hướng hạ nhiệt do nguồn cung dồi dào từ các nhà sản xuất hàng đầu như Australia và Brazil, cũng như các nguồn cung mới như Guinea ở Tây Phi. Hợp đồng tương lai trên Sàn giao dịch Chứng khoán Singapore chốt phiên thứ Hai ở mức 99 USD/tấn, nhích nhẹ từ mức thấp nhất một năm là 97,63 USD/tấn vào ngày 1/7, nhưng giảm so với đỉnh 22 tháng là 111,91 USD/tấn ghi nhận vào ngày 11/5.
Với việc tồn kho quặng sắt của Trung Quốc đang ở mức tương đối cao, rất khó để đưa ra kịch bản tăng trưởng kéo dài cho cả lượng nhập khẩu lẫn giá quặng, đặc biệt khi dự báo nguồn cung sẽ gia tăng từ dự án Simandou công suất 120 triệu tấn/năm tại Guinea – vốn đang đẩy mạnh sản lượng sau khi đi vào hoạt động cuối năm ngoái.
Triển vọng của ngành thép Trung Quốc có thể khởi sắc hơn đôi chút, đặc biệt nếu Bắc Kinh nhận thấy mức tăng trưởng kinh tế 4,3% so với cùng kỳ trong quý II (thấp hơn dự kiến) là căn cứ để triển khai các biện pháp kích thích kinh tế mạnh mẽ hơn.
Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân tác giả bài báo của Reuters
Theo nhận định của các chuyên gia, với diễn biến phức tạp của dịch bệnh, thị trường heo hơi sẽ ghi nhận một số điều chỉnh trong ngày mai.
Bảng giá vàng hôm nay (21/7) ghi nhận nhịp giảm bao trùm vàng miếng SJC, vàng nhẫn và vàng nữ trang 18K, trong đó Mi Hồng hạ giá mua tới 1,4 triệu đồng/lượng. Riêng vàng 24K biến động ngược chiều giữa các hệ thống khi Phú Quý giảm 1,5 triệu đồng/lượng, còn DOJI tăng 1 triệu đồng/lượng. Cùng lúc, giá vàng thế giới tăng lên 4.079 USD/ounce nhưng vẫn thấp hơn trong nước khoảng 15,7 triệu đồng/lượng.
Giá lúa gạo hôm nay tại thị trường trong nước tiếp tục tăng, với gạo nguyên liệu nhích thêm 100 – 150 đồng/kg. Trong khi đó, Pakistan đối mặt nguy cơ năng suất lúa tại các vùng sản xuất trọng điểm giảm 12% - 22% vào cuối thế kỷ do tác động của biến đổi khí hậu.
VASEP nhận định, với kim ngạch 5,77 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm, xuất khẩu thuỷ sản cả năm hoàn toàn có khả năng vượt 11 tỷ USD.