Tại khu vực miền Bắc, giá heo hơi trong ngày 30/4 tiếp tục đi ngang so với hôm qua.
Giá heo tại Hưng Yên vẫn là địa phương có giá cao nhất khu vực, giữ mức 66.000 đồng/kg.
Các tỉnh Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội và Hải Phòng cùng duy trì mức 65.000 đồng/kg.
Trong khi đó, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Ninh Bình, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Phú Thọ và Sơn La tiếp tục thu mua ở mức 64.000 đồng/kg.
Hiện giá heo hơi tại miền Bắc dao động từ 64.000 đồng/kg đến 66.000 đồng/kg.
|
Địa phương |
Giá (đồng) |
Tăng/giảm (đồng) |
|
Tuyên Quang |
64.000 |
- |
|
Cao Bằng |
64.000 |
- |
|
Thái Nguyên |
65.000 |
- |
|
Lạng Sơn |
64.000 |
- |
|
Quảng Ninh |
65.000 |
- |
|
Bắc Ninh |
65.000 |
- |
|
Hà Nội |
65.000 |
- |
|
Hải Phòng |
65.000 |
- |
|
Ninh Bình |
64.000 |
- |
|
Lào Cai |
64.000 |
- |
|
Lai Châu |
64.000 |
- |
|
Điện Biên |
64.000 |
- |
|
Phú Thọ |
64.000 |
- |
|
Sơn La |
64.000 |
- |
|
Hưng Yên |
66.000 |
- |
Giá heo hơi hôm nay tại miền Bắc. (Tổng hợp: Hà My)
Tại miền Trung – Tây Nguyên, thị trường heo hơi ngày 30/4 không xuất hiện biến động mới.
Giá heo tại Lâm Đồng tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu khu vực với 69.000 đồng/kg, trong khi Đắk Lắk duy trì mức 68.000 đồng/kg.
Các địa phương Thanh Hóa, Nghệ An, Gia Lai và Khánh Hòa cùng giao dịch ở mức 65.000 đồng/kg.
Các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng và Quảng Ngãi tiếp tục giữ mức 64.000 đồng/kg.
Hiện giá heo hơi tại miền Trung - Tây Nguyên dao động từ 64.000 đồng/kg đến 69.000 đồng/kg.
|
Địa phương |
Giá (đồng) |
Tăng/giảm (đồng) |
|
Thanh Hoá |
65.000 |
- |
|
Nghệ An |
64.000 |
- |
|
Hà Tĩnh |
64.000 |
- |
|
Quảng Trị |
64.000 |
- |
|
Huế |
64.000 |
- |
|
Đà Nẵng |
64.000 |
- |
|
Quảng Ngãi |
64.000 |
- |
|
Gia Lai |
65.000 |
- |
|
Đắk Lắk |
68.000 |
- |
|
Khánh Hoà |
65.000 |
- |
|
Lâm Đồng |
69.000 |
- |
Giá heo hơi hôm nay tại miền Trung, Tây Nguyên. (Tổng hợp: Hà My)
Tại miền Nam, giá heo hơi hôm nay tiếp tục đi ngang và duy trì ở mặt bằng cao nhất thị trường.
Giá heo tại Đồng Nai, Đồng Tháp, TP HCM, Vĩnh Long và Cần Thơ cùng giữ mức 69.000 đồng/kg.
Giá heo tại Tây Ninh, An Giang và Cà Mau tiếp tục neo ở mức 68.000 đồng/kg.
Hiện giá heo hơi tại miền Nam dao động từ 68.000 đồng/kg đến 69.000 đồng/kg.
|
Địa phương |
Giá (đồng) |
Tăng/giảm (đồng) |
|
Đồng Nai |
69.000 |
- |
|
Tây Ninh |
68.000 |
- |
|
Đồng Tháp |
69.000 |
- |
|
An Giang |
68.000 |
- |
|
Cà Mau |
68.000 |
- |
|
TP HCM |
69.000 |
- |
|
Vĩnh Long |
69.000 |
- |
|
Cần Thơ |
68.000 |
- |
Giá heo hơi hôm nay tại miền Nam. (Tổng hợp: Hà My)
Nhìn chung, giá heo hơi ngày 30/4 tiếp tục ổn định trên toàn quốc. Việc nhiều địa phương duy trì mức 69.000 đồng/kg cho thấy nhu cầu tiêu thụ vẫn tích cực, trong khi nguồn cung chưa có dấu hiệu dư thừa trong ngắn hạn.
Ảnh: Hà My
Theo Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam, trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng cao và sức ép cạnh tranh ngày càng lớn, ngành chăn nuôi Việt Nam đang chuyển mạnh từ tăng số lượng sang nâng cao chất lượng, đẩy mạnh tự chủ con giống, ứng dụng công nghệ và phát triển theo chuỗi giá trị bền vững.
Theo đánh giá của cơ quan quản lý chuyên ngành, chăn nuôi tiếp tục là một trong những trụ cột quan trọng của nông nghiệp Việt Nam, đóng góp lớn vào nguồn cung thực phẩm và sinh kế của hàng triệu hộ dân. Chính vì vậy, việc chuyển từ tư duy “nuôi nhiều” sang “nuôi tốt” được xem là yêu cầu trước mắt, đồng thời là hướng đi lâu dài để ngành chăn nuôi nâng sức cạnh tranh, giảm phụ thuộc bên ngoài và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Dù diện tích đất đai không lớn, Việt Nam vẫn duy trì quy mô chăn nuôi thuộc nhóm cao trên thế giới. Tổng đàn lợn hiện đứng thứ 5 thế giới về đầu con và thứ 6 về sản lượng. Đàn thủy cầm đạt khoảng 103 triệu con, đứng thứ 2 thế giới sau Trung Quốc. Sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp đạt trên 21,5 triệu tấn, dẫn đầu khu vực ASEAN. Sản lượng sữa nguyên liệu xếp thứ 3 trong khu vực.
Bước sang năm 2026, toàn ngành phấn đấu đạt sản lượng 8,66 triệu tấn thịt, 19 tỷ quả trứng và 1,5 triệu tấn sữa. Quy mô đàn vật nuôi dự kiến tiếp tục duy trì ở mức lớn với đàn lợn khoảng 31,4 triệu con, đàn gia cầm khoảng 558,6 triệu con, đàn bò khoảng 6,18 triệu con và đàn trâu khoảng 2,3 triệu con.
Những mục tiêu này có cơ sở khi kết quả quý I/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Tổng đàn lợn ước tăng 2,9%, đàn gia cầm tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước. Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 197,7 triệu USD, tăng 54,3%
Chi phí thức ăn chăn nuôi hiện chiếm khoảng 60 – 70% giá thành sản xuất, tác động trực tiếp tới khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Trong khi đó, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 70 – 80% nguyên liệu phục vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi.
Sự phụ thuộc này khiến giá thành sản xuất trong nước chịu tác động mạnh mỗi khi giá ngô, đậu tương, lúa mì hoặc chi phí logistics thế giới biến động. Mỗi đợt tăng giá nguyên liệu đều tạo thêm áp lực cho doanh nghiệp và người chăn nuôi, nhất là các hộ sản xuất quy mô nhỏ.
Thực tế cho thấy có thời điểm giá bán sản phẩm đầu ra giảm sâu trong khi chi phí thức ăn, con giống, thuốc thú y và nhân công vẫn ở mức cao. Cụ thể, ở phân khúc trứng gia cầm, giá tại trại có lúc chỉ còn khoảng 1.300 – 1.400 đồng/quả, trong khi giá thành sản xuất khoảng 1.700 đồng/quả, khiến nhiều hộ chăn nuôi thua lỗ.