Sau chuỗi đi ngang kéo dài trong tuần qua, giá tiêu trong nước sáng nay tăng nhẹ 500 – 1.000 đồng/kg tại một số địa phương, dao động trong khoảng 141.000 – 144.000 đồng/kg.
Cụ thể, Gia Lai ghi nhận mức tăng 1.000 đồng/kg, đưa giá thu mua hồ tiêu lên 141.000 đồng/kg.
Tại Đồng Nai, giá tiêu cũng tăng thêm 500 đồng/kg, hiện được giao dịch ở mức 142.500 đồng/kg.
Trong khi đó, giá tiêu tại Đắk Lắk và Đắk Nông (Lâm Đồng) tiếp tục ổn định ở mức 144.000 đồng/kg. Còn tại Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM), giá giao dịch duy trì ở mức 142.500 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 10/5 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
144.000 |
- |
|
Gia Lai |
141.000 |
+1.000 |
|
Đắk Nông |
144.000 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
142.500 |
- |
|
Bình Phước |
142.500 |
+500 |
|
Đồng Nai |
142.500 |
+500 |
Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu tại các quốc gia sản xuất chủ chốt nhìn chung duy trì ổn định trong tuần qua, ngoại trừ Indonesia ghi nhận mức giảm nhẹ.
Kết thúc tuần, giá tiêu đen Indonesia đạt 6.955 USD/tấn, giảm 0,16% (tương đương 11 USD/tấn) so với tuần trước.
Trong khi đó, giá tiêu đen Brazil loại ASTA 570 đi ngang ở mức 6.100 USD/tấn trong suốt cả tuần, còn tiêu đen Malaysia giữ ở mức 9.300 USD/tấn. Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu tiếp tục ổn định trong khoảng 6.100 – 6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 10/5 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với tuần trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.955 |
-0,16 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
6.100 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.300 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.100 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.200 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, tiêu trắng Muntok của Indonesia đạt 9.164 USD/tấn, giảm 0,15% (14 USD/tấn) so với tuần trước.
Tại Việt Nam và Malaysia, giá tiêu trắng lần lượt đứng ở mức 9.000 USD/tấn và 12.200 USD/tấn, không ghi nhận biến động mới.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 10/5 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với tuần trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.164 |
-0,15 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.200 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.000 |
- |
Theo số liệu thống kê ITC, trong tháng 3/2026, xuất khẩu hồ tiêu của Indonesia đạt 1.950 tấn, kim ngạch đạt 15,7 triệu USD, so với cùng kỳ tháng 3/2025 lượng xuất khẩu giảm 45,9% và so với tháng trước lượng xuất khẩu giảm 30,1%, kim ngạch giảm 18,2%.
Hầu hết các thị trường xuất khẩu chính đều giảm mạnh so với tháng trước, trong đó Việt Nam giảm 68,7% đạt 269 tấn, Hàn Quốc giảm 66,7% đạt 48 tấn, Mỹ giảm 46,2% đạt 186 tấn.
Ngược lại, Trung Quốc tăng mạnh 66,3% so với tháng trước đạt 301 tấn và là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Indonesia trong tháng 3, trong khi Thái Lan giữ ổn định so với tháng 2/2026 đạt 160 tấn.
Tính đến hết quý I/2026, Indonesia đã xuất khẩu được 8.401 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt 59,2 triệu USD, giảm 31,9% về lượng và 25,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Trong đó, Việt Nam tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất trong 4 tháng đầu năm với khối lượng đạt 2.651 tấn, chiếm 31,5% tổng xuất khẩu của Indonesia, tuy nhiên vẫn giảm 14,3% so với cùng kỳ năm ngoái.
Mỹ đứng thứ hai với 1.163 tấn, chiếm 13,8%, giảm mạnh 45,3%; tiếp theo là Ấn Độ đạt 891 tấn, giảm 41,6% và Trung Quốc đạt 639 tấn, giảm tới 68,8%, cho thấy nhu cầu từ các thị trường lớn vẫn còn khá yếu.
Trong khi đó, một số thị trường ghi nhận tăng trưởng tích cực như Hàn Quốc đạt 480 tấn, so với mức nhập khẩu 2 tấn cùng kỳ, Thái Lan đạt 420 tấn, tăng 35,0% và Đài Loan đạt 373 tấn, tăng 31,3% tuy nhiên quy mô vẫn còn tương đối nhỏ.
Nhìn chung, xuất khẩu Hồ tiêu của Indonesia trong quý I/2026 tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn khi lượng xuất khẩu giảm sâu tại các thị trường tiêu thụ chủ lực như Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ. Điều này phản ánh tình trạng nguồn cung suy giảm kéo dài của Indonesia cũng như nhu cầu nhập khẩu thế giới chưa phục hồi đồng đều trong bối cảnh thị trường toàn cầu còn nhiều biến động.
Giá cà phê tại thị trường nội địa Việt Nam đã tăng 500 – 700 đồng/kg trong tuần qua, lên mức 86.500 – 87.300 đồng/kg. Tuy nhiên, hoạt động giao dịch vẫn khá trầm lắng do nông dân tiếp tục hạn chế bán ra, trong khi một số nhà mua hàng đã chuyển hướng sang thị trường Indonesia.
Tiêu thụ vàng tại Trung Quốc quý I/2026 tăng 4,41%, trong khi nhu cầu vàng thỏi và ETF bùng nổ giữa bối cảnh giá kim loại quý liên tục lập đỉnh mới.
Tuần vừa qua, giá heo hơi ghi nhận xu hướng tăng rõ rệt tại miền Bắc và miền Trung - Tây Nguyên, trong khi thị trường miền Nam biến động nhẹ và tiếp tục duy trì mặt bằng giá ở mức cao nhất cả nước.
Trong tuần qua (4/5 - 9/5), giá vàng trong nước đồng loạt phục hồi và tăng mạnh trở lại ở tất cả các phân khúc sau nhịp điều chỉnh của tuần trước. Vàng miếng SJC, vàng nhẫn tròn trơn và vàng nữ trang đều ghi nhận mức tăng phổ biến 450.000 - 1 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp lớn.