Khảo sát cho thấy, giá tiêu sáng nay tại thị trường trong nước vẫn dao động quanh mốc 149.000 – 152.000 đồng/kg, không đổi so với ngày hôm trước.
Trong đó, Đắk Lắk ghi nhận mức giá thu mua cao nhất ở mức 152.000 đồng/kg. Tiếp đến là Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) đạt 151.500 đồng/kg; Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) đứng ở mức 151.000 đồng/kg; Gia Lai đạt 150.500 đồng/kg. Riêng Đồng Nai vẫn là địa phương có giá thấp nhất, ở mức 149.000 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 15/1 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
152.000 |
- |
|
Gia Lai |
150.500 |
- |
|
Đắk Nông |
151.500 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
151.000 |
- |
|
Bình Phước |
149.000 |
- |
|
Đồng Nai |
149.000 |
- |
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia được niêm yết ở mức 6.567 USD/tấn, giảm 7 USD/tấn so với ngày hôm trước.
Tại các quốc gia sản xuất hàng đầu khác, giá nhìn chung vẫn ổn định. Hiện tiêu đen Brazil ASTA 570 có giá 6.100 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia đạt 9.000 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu tiếp tục giữ nguyên ở mức 6.600 – 6.800 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 15/1 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.567 |
-0,10 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
6.100 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.000 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.600 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.800 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok Indonesia giảm 9 USD/tấn so với ngày hôm trước, xuống còn 9.123 USD/tấn.
Tại Malaysia và Việt Nam, giá tiêu trắng xuất khẩu lần lượt được giao dịch ở mức 12.000 USD/tấn và 9.350 USD/tấn, không thay đổi so với ngày hôm trước.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 15/1 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.123 |
-0,10 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.000 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.350 |
- |
Theo TTXVN, tại Hội nghị thường niên Hiệp hội Hồ tiêu và Cây Gia vị Việt Nam (VPSA), tổ chức chiều 14/1 tại TP. Hồ Chí Minh, Bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu và cây Gia vị Việt Nam (VPSA) thông tin: Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu và gia vị của Việt Nam lần đầu vượt mốc 2,12 tỷ USD, trong đó riêng hồ tiêu đạt hơn 1,6 tỷ USD.
Kết quả này không chỉ khẳng định vai trò trụ cột của hồ tiêu trong nhóm hàng gia vị, mà còn đóng góp đáng kể vào thặng dư thương mại khoảng 70 tỷ USD của toàn ngành nông nghiệp, vượt xa mục tiêu Chính phủ giao. Đáng chú ý, mức tăng trưởng này đạt được trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động, nhu cầu tiêu dùng tại các thị trường lớn chưa thực sự phục hồi mạnh.
Theo bà Hoàng Thị Liên, đây là thành quả của nỗ lực rất lớn từ toàn bộ chuỗi cung ứng, từ nông dân tại vùng nguyên liệu, doanh nghiệp chế biến - xuất khẩu đến các đơn vị logistics. Quan trọng hơn, ngành hồ tiêu Việt Nam đã có sự chuyển dịch rõ rệt về tư duy, từ bị động đối phó sang chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn quốc tế, coi yêu cầu xanh và bền vững là “điều kiện căn bản của thị trường” chứ không còn là rào cản mang tính tình thế.
Tuy vậy, phía sau những con số ấn tượng là áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng. Dựa trên các khảo sát mùa vụ, sản lượng hồ tiêu Việt Nam năm 2025 đạt khoảng175.000–195.000 tấn, tiếp tục duy trì vị trí số một thế giới. Trong khi đó, sản lượng hồ tiêu của Brazil, đối thủ lớn nhất hiện nay của Việt Nam đã tiệm cận mốc 100.000 tấn.
Dù khối lượng xuất khẩu của Việt Nam vẫn cao gấp gần ba lần Brazil, nhưng thực tế Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 45.000 tấn nguyên liệu để phục vụ chế biến và tái xuất. Điều này cho thấy khoảng cách về nguồn cung thực thụ đang dần thu hẹp, buộc ngành hồ tiêu Việt Nam phải tính đến những chiến lược dài hạn hơn thay vì chỉ dựa vào lợi thế quy mô.
Thông tin cụ thể về thị trường, ông Lê Việt Anh, Tổng Thư ký VPSA, cho biết năm 2025, nguồn cung hồ tiêu trong nước tương đối ổn định nhờ năng suất cải thiện, diện tích vườn tiêu mới tăng lên và đầu tư quay trở lại khi giá duy trì ở mức cao.
Tuy nhiên, mặt bằng giá đã có sự điều chỉnh so với giai đoạn “tăng nóng” trước đó. Giá tiêu nội địa đạt đỉnh sớm trong quý I, sau đó giảm dần và đi ngang vào cuối năm, phổ biến quanh mức 145.000–150.000 đồng/kg đối với tiêu đen và 230.000–243.000 đồng/kg đối với tiêu trắng.
Giá xuất khẩu FOB (giá tại cảng đi) dao động 6.300–6.800 USD/tấn với tiêu đen và 8.400–9.100 USD/tấn với tiêu trắng, hình thành một mặt bằng giá mới cao hơn nhưng ổn định hơn so với năm 2024.
Dù vậy, năm 2026 được dự báo không ít thách thức do diễn biến thời tiết bất lợi, từ khô hạn đầu năm đến mưa lớn kéo dài trong mùa mưa, làm gia tăng nguy cơ sâu bệnh, đặc biệt với các vườn tiêu đã già cỗi. Nhiều vùng trồng được dự báo chỉ đạt năng suất trung bình, khiến sản lượng toàn ngành có thể giảm khoảng 10% so với năm 2025. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về tái cơ cấu sản xuất, nâng cao chất lượng và khả năng chống chịu thay vì chạy theo sản lượng.
Giá cao su Nhật Bản tăng lên mức cao nhất kể từ đầu tháng 3 khi đồng yen suy yếu và nhu cầu tích trữ từ Trung Quốc.
Giá thép và quặng sắt kỳ hạn gần giảm nhẹ trong khi kỳ hạn xa tăng mạnh nhờ xuất khẩu kỷ lục của Trung Quốc.
Giá dầu thô tiếp đà giảm trong phiên sáng ngày thứ Năm (15/1) khi Tổng thống Mỹ Donald Trump trấn an thị trường rằng các vụ đàn áp biểu tình tại Iran đang giảm dần, làm dịu đi lo ngại về nguy cơ gián đoạn nguồn cung từ quốc gia Trung Đông này.
Giá vàng thế giới điều chỉnh trong phiên sáng ngày thứ Năm (15/1) sau khi tăng vọt lên mức cao kỷ lục vào hôm trước, vì những bất ổn về tình hình địa chính trị và kinh tế khiến giới đầu tư đổ xô vào các tài sản trú ẩn an toàn.