Khảo sát cho thấy, giá tiêu sáng nay tại các địa phương sản xuất trọng điểm tiếp tục giảm mạnh 1.000 – 2.500 đồng/kg so với ngày hôm trước, xuống còn 147.500 – 148.500 đồng/kg. Đánh dấu ngày thứ ba giảm giá liên tiếp của thị trường trong nước.
Cụ thể, Đắk Lắk và Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) ghi nhận mức giảm mạnh nhất, mất 2.500 đồng/kg, đưa giá xuống còn 148.500 đồng/kg.
Tiếp đến là Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) và Gia Lai, với mức giảm 2.000 đồng/kg, cùng được giao dịch ở mức 148.000 đồng/kg.
Đứng ở mức thấp hơn, Đồng Nai ghi nhận giá thu mua đạt 147.500 đồng/kg, giảm 1.000 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 17/1 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
148.500 |
-2.500 |
|
Gia Lai |
148.000 |
-2.000 |
|
Đắk Nông |
148.500 |
-2.500 |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
148.000 |
-2.000 |
|
Bình Phước |
147.500 |
-1.000 |
|
Đồng Nai |
147.500 |
-1.000 |
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, giá tiêu thế giới không ghi nhận biến động mới. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia vẫn được niêm yết ở mức 6.563 USD/tấn, tiêu đen Brazil ASTA 570 có giá 6.100 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia đạt 9.000 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu tiếp tục dao động trong khoảng 6.400 – 6.600 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 17/1 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.563 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
6.100 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.000 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.400 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.600 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok Indonesia đạt 9.118 USD/tấn. Tại Việt Nam và Malaysia, giá tiêu trắng lần lượt ghi nhận ở mốc 9.150 USD/tấn và 12.000 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 17/1 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.118 |
- |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.000 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.150 |
- |
Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA) dẫn số liệu thống kê của ITC , cho biết, trong tháng 11/2025, xuất khẩu hồ tiêu của Indonesia đạt 2.575 tấn, giảm 6% so với tháng trước và giảm rất mạnh 60% so với mức 6.443 tấn của tháng 11/2024, cho thấy hoạt động giao hàng cuối năm suy yếu rõ rệt cả về nhu cầu lẫn tiến độ thực hiện hợp đồng.
Tính chung 11 tháng năm 2025, Indonesia xuất khẩu đạt 32.160 tấn, giảm 36,7% so với mức 50.799 tấn cùng kỳ năm 2024, phản ánh xu hướng suy giảm mang tính toàn diện chứ không chỉ mang tính thời điểm.
Nguyên nhân chính đến từ sự sụt giảm mạnh ở các thị trường truyền thống và có quy mô lớn như Việt Nam, Trung Quốc, khu vực châu Mỹ và Ấn Độ, trong đó riêng thị trường Việt Nam giảm trên 60%, làm mất đi một lượng tiêu thụ rất đáng kể của Indonesia.
Bên cạnh đó, xuất khẩu sang một số thị trường châu Âu chủ lực như Đức và Hà Lan cũng thu hẹp mạnh, cho thấy nhu cầu từ khối EU chưa phục hồi ổn định. Ở chiều ngược lại, xuất khẩu của Indonesia ghi nhận mức tăng khá tại một số thị trường như Hàn Quốc, Philippines, Pháp, Malaysia hay Nepal, tuy nhiên quy mô tuyệt đối của các thị trường này còn nhỏ nên chưa đủ để bù đắp phần sụt giảm từ các thị trường lớn.
Sản lượng hồ tiêu của Indonesia năm 2025 ước đạt 53 ngàn tấn, giảm 10,1% so với năm trước, nguyên nhân được cho là tình trạng mưa nhiều, phản ánh sự suy giảm bền vững về diện tích và năng suất, mùa vụ thu hoạch dự kiến sẽ bị chậm lại.
Xuất khẩu năm 2025 của Indonesia ước đạt 35 ngàn tấn, giảm 36,7% so với cùng kỳ năm 2024. Ước tính tồn kho của Indonesia còn khoảng 13 ngàn tấn và cũng là lượng tồn kho thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây.
Trong quý IV, giá xuất khẩu tiêu đen Indonesia duy trì trên 7.000 USD/tấn nhưng có xu hướng giảm trong tháng 12 khi nguồn hàng xuất khẩu dồi dào hơn. Indonesia vì vậy giữ vai trò là nguồn cung trung gian về giá, cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam ở phân khúc trung cấp, đồng thời tận dụng lợi thế mùa vụ để gia tăng thị phần trong những thời điểm Việt Nam khan hàng.
Tính chung cả năm 2025 giá tiêu đen Lampung của Indonesia dao động quanh mức 7.260 USD/tấn bình quân, cao hơn Việt Nam nhưng thấp hơn Ấn Độ. Giá đạt mức cao nhất vào khoảng giữa năm, sau đó giảm nhẹ về cuối năm.
Trong khi đó, giá tiêu trắng Muntok trong quý IV/2025 dao động quanh mức 9.700 -10.100 USD/tấn, có xu hướng giảm nhẹ so với quý III khi nguồn cung từ vụ thu hoạch mới bắt đầu ra thị trường. Mức giá này vẫn được xem là ổn định và cạnh tranh, giúp Indonesia duy trì vị thế là nguồn cung tiêu trắng phổ biến tại châu Á và Trung Đông.
Tính cả năm 2025, giá bình quân tiêu trắng đạt khoảng 10.000 USD/tấn, biến động trong biên độ hẹp. Indonesia tiếp tục đóng vai trò là chuẩn giá trung cấp của thị trường tiêu trắng toàn cầu, với lợi thế về độ ổn định và sản lượng tương đối tốt.
Giá sầu riêng hôm nay (17/1) không có biến động mới tại các khu vực thu mua trọng điểm, sau hơn hai năm xuất khẩu chính ngạch, sầu riêng Việt Nam đã nhanh chóng vươn lên chiếm gần một nửa thị phần nhập khẩu tại Trung Quốc, với tốc độ tăng trưởng vượt Thái Lan cả về sản lượng lẫn giá trị.
Hiện tại, thịt nạc vai heo đang duy trì tại mức 126.320 đồng/kg ở Hệ thống cửa hàng WinMart và 123.810 đồng/kg ở Công ty Thực phẩm tươi sống Hà Hiền.
Giá cà phê hôm nay ghi nhận mức giảm nhẹ đối với arabica, trong khi robusta vẫn duy trì quanh ngưỡng 4.000 USD/tấn. Diễn biến này được hỗ trợ bởi nguồn cung hạn chế, khi hoạt động bán ra tại Việt Nam tiếp tục ở mức thấp.
Giá bạc hôm nay biến động trái chiều khi bạc thỏi SBJ tăng lên 95,44 triệu đồng/kg, trong khi giá bạc Phú Quý và giá bạc Ancarat đồng loạt điều chỉnh giảm. Giá bạc thế giới giảm mạnh khi căng thẳng địa chính trị hạ nhiệt và kỳ vọng Fed duy trì lãi suất cao tiếp tục gây sức ép lên kim loại quý này.