Khảo sát cho thấy, giá tiêu hôm nay tại thị trường trong nước tiếp tục đi xuống khi giảm 1.000 đồng/kg so với ngày hôm trước, đưa giá thu mua lùi về mức 135.000 – 137.500 đồng/kg.
Cụ thể, giá tiêu tại Đắk Lắk giảm xuống còn 137.500 đồng/kg, nhưng vẫn là địa phương có giá cao nhất trong khu vực. Tại Đắk Nông (Lâm Đồng), giá tiêu giảm về 136.500 đồng/kg; Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) đạt 135.500 đồng/kg. Trong khi đó, giá tiêu tại Gia Lai và Bình Phước (Đồng Nai) cùng phổ biến ở mức 135.000 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 31/10 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
137.500 |
-1.000 |
|
Gia Lai |
135.000 |
-1.000 |
|
Đắk Nông |
136.500 |
-1.000 |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
135.500 |
-1.000 |
|
Bình Phước |
135.000 |
-1.000 |
|
Đồng Nai |
135.000 |
-1.000 |
Theo dữ liệu từ Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia trong phiên giao dịch gần nhất giảm 0,73%, tương đương 50 USD/tấn, xuống còn 6.800 USD/tấn.
Tương tự, giá tiêu đen ASTA 570 của Brazil giảm 1,72%, tương ứng 100 USD/tấn, xuống còn 5.700 USD/tấn, thấp nhất trong số các thị trường được khảo sát.
Trong khi đó, giá tiêu đen Malaysia tiếp tục ổn định ở mức 9.100 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá xuất khẩu tiêu đen không có biến động so với phiên trước. Cụ thể, giá tiêu đen loại 500 g/l được niêm yết ở mức 5.950 USD/tấn, trong khi loại 550 g/l đạt 5.995 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 31/10 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.800 |
-0,73 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
5.700 |
-1,72 |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.100 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.950 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.995 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok Indonesia giảm 0,73% (68 USD/tấn), chỉ còn 9.286 USD/tấn.
Tại Malaysia và Việt Nam, tiêu trắng tiếp tục được báo giá ở mức 12.000 USD/tấn và 8.450 USD/tấn, không thay đổi so với ngày hôm trước.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 31/10 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.286 |
-0,73 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.000 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
8.450 |
- |
Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, theo dữ liệu từ Cục Hải quan Thái Lan, nhập khẩu hạt tiêu (mã HS 090411 và HS 090412) của Thái Lan trong 8 tháng năm 2026 đạt 8,92 nghìn tấn, trị giá 63,60 triệu USD, tăng 65,6% về lượng và tăng 44,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Tính riêng trong tháng 8/2026, nhập khẩu hạt tiêu của Thái Lan đạt 997 tấn, trị giá 6,90 triệu USD, tăng 8,0% về lượng và tăng 7,3% về trị giá so với tháng 7/2026; tăng 2,0% về lượng nhưng giảm 7,2% về trị giá so với tháng 8/2025.
Giá bình quân nhập khẩu hạt tiêu vào Thái Lan trong tháng 8/2026 ở mức 6.920 USD/tấn, giảm 0,6% so với tháng 7/2026 và giảm 9,1% so với tháng 8/2025. Tính chung 8 tháng năm 2026, giá bình quân nhập khẩu hạt tiêu vào Thái Lan ở mức 7.129 USD/tấn, giảm 12,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Về thị trường cung cấp: Việt Nam tiếp tục là nguồn cung hạt tiêu lớn nhất của Thái Lan trong 8 tháng năm 2026, đạt 7,77 nghìn tấn, trị giá 53,76 triệu USD, tăng 69,5% về lượng và tăng 44,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Thị phần của Việt Nam trong tổng lượng hạt tiêu nhập khẩu của Thái Lan tăng từ 85,15% trong 8 tháng năm 2025 lên 87,14% trong 8 tháng năm 2026, trong khi tỷ trọng về trị giá tăng nhẹ từ 84,45% lên 84,54%. Lượng nhập khẩu từ Việt Nam tăng thêm khoảng 3,19 nghìn tấn, chiếm tới 90,2% mức tăng nhập khẩu của Thái Lan trong 8 tháng năm 2026.
Indonesia là thị trường lớn thứ hai cung cấp hạt tiêu vào Thái Lan trong 8 tháng năm 2026, với lượng đạt 1,01 nghìn tấn, trị giá 8,34 triệu USD, tăng 41,4% về lượng và tăng 47,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025, song thị phần theo lượng giảm từ 13,28% xuống 11,33%.
Các thị trường cung cấp còn lại chiếm tỷ trọng rất nhỏ: Malaysia tăng 12,3% về lượng (chiếm thị phần 0,79%); Trung Quốc tăng 107,0% về lượng nhưng chỉ đạt 34 tấn (chiếm 0,38% thị phần); Ấn Độ tăng h từ 1,2 tấn lên 29,6 tấn (chiếm 0,33% thị phần). Về giá, giá bình quân nhập khẩu hạt tiêu của Thái Lan từ Việt Nam trong 8 tháng năm 2026 ở mức 6.917 USD/tấn, giảm 14,7% so với cùng kỳ năm 2025 và thấp hơn mức nhập khẩu bình quân chung của Thái Lan (7.129 USD/tấn).
Trong khi đó, giá nhập khẩu mặt hàng này của Thái Lan từ thị trường Indonesia đạt 8.253 USD/tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm 2025. Mức giá thấp hơn khoảng 16% so với hạt tiêu Indonesia nhiều khả năng là một yếu tố giúp Việt Nam tăng thị phần trong 8 tháng năm 2026.
Triển vọng xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam sang Thái Lan trong những tháng cuối năm 2026 nhìn chung khả quan.
Với thị phần theo lượng đã ở mức gần 87%, Việt Nam tiếp tục giữ vị trí nhà cung cấp hạt tiêu lớn nhất vào Thái Lan; tuy nhiên, dư địa mở rộng thêm thị phần không còn lớn.
Lượng nhập khẩu của Thái Lan trong 8 tháng năm 2026 đã bằng 92% cả năm 2025 (9,65 nghìn tấn), nên tổng lượng cả năm 2026 nhiều khả năng sẽ cao hơn đáng kể năm trước. Giá bình quân nhập khẩu của Thái Lan đã giảm 12,8% khiến tăng trưởng trị giá thấp hơn nhiều so với tăng trưởng về lượng (44,4% so với 65,6%).
Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp Việt Nam cần theo dõi sát diễn biến giá, đồng thời duy trì chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn để bảo vệ vị thế dẫn đầu và cải thiện hiệu quả xuất khẩu tại thị trường này.
Giá cà phê hôm nay đảo chiều tăng trên các sàn giao dịch, đặc biệt là robusta tăng mạnh 42 USD/tấn. Mặc dù vậy, tính chung trong cả tháng 10 giá cà phê vẫn giảm so với tháng trước do áp lực nguồn cung dồi dào.
Việt Nam bước vào niên vụ cà phê 2026-2027 trong bối cảnh nguồn cung thế giới phục hồi. Tuy nhiên, lượng tồn kho thấp và những bất ổn về thời tiết có thể khiến diễn biến giá Robusta trở nên khó dự đoán.
Giá dầu thô tăng hơn 2% trong phiên cuối tuần, chốt ở mức cao nhất kể từ cuối tháng 4, khi giới giao dịch chuẩn bị cho khả năng chiến tranh Iran leo thang sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tại Mỹ.
Giá vàng trong nước hôm nay (31/10) lao dốc dữ dội, vàng miếng SJC, vàng nhẫn và vàng nữ trang đồng loạt bốc hơi tới 2,9 triệu đồng/lượng. Giá vàng thế giới rơi xuống mức thấp nhất trong một năm vào phiên giao dịch cuối tuần, trong khi bạc, bạch kim và palladium giảm sâu vào vùng quá bán về mặt kỹ thuật.