Giá tiêu tại các tỉnh, thành sản xuất trọng điểm trong nước sáng nay tiếp tục duy trì trạng thái ổn định, chưa xuất hiện điều chỉnh so với phiên trước. Mặt bằng giá thu mua phổ biến hiện dao động từ 134.000 – 136.500 đồng/kg.
Cụ thể, Đắk Lắk tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất, đạt 136.500 đồng/kg. Theo sau là Đắk Nông (Lâm Đồng) với 135.500 đồng/kg và Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) ở mức 134.500 đồng/kg. Tại Gia Lai và Bình Phước (Đồng Nai), giá tiêu vẫn ở mức 134.000 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 4/11 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
136.500 |
- |
|
Gia Lai |
134.000 |
- |
|
Đắk Nông |
135.500 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
134.500 |
- |
|
Bình Phước |
134.000 |
- |
|
Đồng Nai |
134.000 |
- |
Dữ liệu từ Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) cho thấy thị trường hồ tiêu thế giới nhìn chung không ghi nhận biến động mới, giá tại các nước sản xuất chủ chốt tiếp tục ổn định.
Cụ thể, giá tiêu đen Indonesia hiện được niêm yết ở mức 6.800 USD/tấn, trong khi tiêu đen ASTA 570 của Brazil đạt 5.700 USD/tấn, thấp nhất trong số các thị trường được khảo sát. Ngược lại, Malaysia tiếp tục dẫn đầu với giá 9.100 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu vẫn giữ nguyên ở cả hai chủng loại. Trong đó, loại 500 g/l đạt 5.950 USD/tấn và loại 550 g/l được chào bán ở mức 5.995 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 4/11 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.800 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
5.700 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.100 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.950 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.995 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok Indonesia đi ngang ở mức 9.286 USD/tấn. Tại Malaysia và Việt Nam, tiêu trắng lần lượt chào bán với giá 12.000 USD/tấn và 8.450 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 4/11 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.286 |
- |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.000 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
8.450 |
- |
Theo Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam, trong 9 tháng năm 2026, số lượng cảnh báo từ EU về hồ tiêu và gia vị giảm rõ rệt từ 51 trường hợp 9 tháng năm 2025 xuống còn 33 trường hợp 9 tháng năm 2026, trong đó Việt Nam có 4 cảnh báo, 2 về hồ tiêu và 2 về quế.
Trong khi đó, theo số liệu ITC, 7 tháng đầu năm 2026, châu Âu nhập khẩu khoảng 69.388 tấn hồ tiêu, giảm 3,2%, tương đương giảm 2.326 tấn so với cùng kỳ năm 2025. Nhập khẩu giữa các thị trường có sự phân hóa: Đức, Anh và Ba Lan giảm khá mạnh, trong khi Hà Lan và Pháp tiếp tục tăng.
Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, Đức nhập khẩu 16.061 tấn hồ tiêu, tổng kim ngạch đạt 129,6 triệu USD, giảm 15,5% về lượng và 13,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Thị phần của Đức trong tổng nhập khẩu châu Âu giảm từ 26,5% xuống 23,1%.
Anh nhập khẩu 6.149 tấn, giảm 15,8%, tương đương giảm 1.152 tấn; Ba Lan đạt 4.670 tấn, giảm 11,2%; Ý đạt 2.844 tấn, giảm 4,1%. Sự sụt giảm tại các thị trường này tạo áp lực đáng kể lên tổng nhập khẩu của khu vực.
Ngược lại, Hà Lan nhập khẩu 9.473 tấn, tăng 15,4%, tương đương tăng 1.266 tấn, nâng thị phần từ 11,4% lên 13,7% và tiếp tục đứng thứ hai. Pháp đạt 8.098 tấn, tăng 5,2%, chiếm 11,7%; Tây Ban Nha đạt 3.961 tấn, tăng nhẹ 1,9%, chiếm 5,7%. Mức tăng tại các thị trường này góp phần bù đắp một phần sự suy giảm tại Đức, Anh và Ba Lan.
Về diễn biến theo tháng, nhập khẩu châu Âu đạt mức cao nhất trong tháng 6 với 11.322 tấn, sau đó giảm nhẹ 2,8% trong tháng 7, còn 11.004 tấn. Tuy nhiên, lượng nhập khẩu tháng 7 vẫn cao hơn các tháng từ tháng 1 đến tháng 5, cho thấy hoạt động mua hàng những tháng gần đây duy trì ở mức khá.
Nhìn chung, nhập khẩu hồ tiêu châu Âu trong 7 tháng đầu năm 2026 giảm nhẹ, nhưng không đồng đều giữa các quốc gia. Diễn biến này phản ánh sự thay đổi trong cơ cấu thị trường nhập khẩu, chưa đủ để kết luận tiêu thụ thực tế toàn khu vực giảm tương ứng, do còn chịu ảnh hưởng của tồn kho và hoạt động tái xuất.
Giá gạo thơm hạt dài 5% tấm của Việt Nam tăng gần 30 USD/tấn lên 499 USD/tấn FOB, mức giá cao nhất kể từ ngày 17/8, khi người mua từ Philippines đang quay trở lại thị trường.
Giá cao su RSS3 của Thái Lan tiếp tục giảm, trong khi thị trường Nhật Bản đóng cửa nghỉ lễ và giá cao su tại Ấn Độ lên mức kỷ lục 300 rupee/kg.
Giá thép thanh kỳ hạn tiếp tục giảm, quặng sắt cũng đi xuống do lượng hàng xuất khẩu từ các nhà cung cấp lớn tăng và nhu cầu tại Trung Quốc trầm lắng.
Giá cà phê hôm nay quay đầu giảm trên các sàn giao dịch do lực bán ra tăng mạnh từ Việt Nam và Brazil.