Ghi nhận trong sáng đầu tuần, giá tiêu tại các vùng nguyên liệu tiếp tục được giao dịch quanh mốc 135.000 – 137.000 đồng/kg.
Trong đó, Đắk Nông (Lâm Đồng) dẫn đầu về giá thu mua với 137.000 đồng/kg, tiếp đến là Đắk Lắk đạt 136.500 đồng/kg. Các địa phương còn lại gồm Đồng Nai, Gia Lai và Bà Rịa – Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu phổ biến ở mức 135.000 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 7/9 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
136.500 |
- |
|
Gia Lai |
135.000 |
- |
|
Đắk Nông |
137.000 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
135.000 |
- |
|
Bình Phước |
135.000 |
- |
|
Đồng Nai |
135.000 |
- |
Trong phiên giao dịch gần nhất, theo dữ liệu Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia tiếp tục được niêm yết ở mức 6.929 USD/tấn, trong khi tiêu đen ASTA 570 đứng ở mức 5.750 USD/tấn, còn Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam vẫn duy trì trong khoảng 5.990 – 6.050 USD/tấn đối với các loại có dung trọng 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 7/9 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.929 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
5.750 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.300 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.990 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.050 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia giữ nguyên ở mức 9.487 USD/tấn. Tại Việt Nam và Malaysia, tiêu trắng lần lượt được chào bán với giá 8.400 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 7/9 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.487 |
- |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.200 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
8.400 |
- |
Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA) cho biết, theo Comex Stat, trong tháng 8/2026, Brazil xuất khẩu 4.273 tấn hồ tiêu, đạt kim ngạch 26,2 triệu USD, với giá xuất khẩu bình quân 6.140 USD/tấn.
So với tháng 7/2026, lượng xuất khẩu tăng 28,9% và kim ngạch tăng 27,8%, trong khi giá xuất khẩu bình quân lại giảm nhẹ 0,4% xuống 6.140 USD/tấn.
So với cùng kỳ tháng 8/2025, lượng xuất khẩu vẫn giảm 9,5% và kim ngạch giảm nhẹ 1,5%. Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân đạt 6.140 USD/tấn, tăng 9,0% so với mức 5.633 USD/tấn của tháng 8/2025.
Xét theo thị trường, Ai Cập vươn lên là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Hồ tiêu Brazil trong tháng 8/2026, đạt 597 tấn, chiếm 14,0% tổng lượng xuất khẩu, tăng tới 210,9% so với tháng trước và 266,3% so với cùng kỳ.
Pakistan đứng thứ hai với 569 tấn, chiếm 13,3%, tăng 75,6% so với tháng 7 và 74,5% so với cùng kỳ. Tiếp theo là Ấn Độ đạt 556 tấn, chiếm 13,0%; mặc dù tăng mạnh 188,1% so với tháng 8/2025 nhưng lại giảm 23,4% so với tháng 7/2026. Senegal đạt 411 tấn, chiếm 9,6%, giảm 15,8% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 26,1% so với cùng kỳ.
Đáng chú ý, xuất khẩu sang Việt Nam phục hồi lên 291 tấn, tăng 78,5% so với tháng 7/2026, nhưng vẫn giảm tới 76,6% so với 1.243 tấn của tháng 8/2025. Một số thị trường khác tăng mạnh so với tháng trước như Thổ Nhĩ Kỳ đạt 245 tấn, tăng 353,7%; Hoa Kỳ đạt 200 tấn, tăng 33,3%; Đức đạt 125 tấn, tăng 25,0%; Romania đạt 120 tấn, tăng 150,0% và Italy đạt 101 tấn, tăng 260,7%.
Lũy kế 8 tháng đầu năm 2026, Brazil xuất khẩu 61.272 tấn hồ tiêu, thu về 379,5 triệu USD, tăng 5,7% về lượng và 5,5% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025, tương ứng tăng 3.316 tấn về lượng và kim ngạch tăng thêm 19,9 triệu USD so với cùng kỳ.
Giá xuất khẩu bình quân 8 tháng đạt 6.194 USD/tấn, giảm nhẹ 0,2% so với mức 6.205 USD/tấn cùng kỳ năm 2025. Diễn biến này cho thấy tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Brazil trong năm 2026 đến gần như hoàn toàn từ sự gia tăng sản lượng xuất khẩu, thay vì tăng giá.
Nếu so với 8 tháng năm 2024, mức tăng còn rõ rệt hơn: lượng xuất khẩu tăng từ 45.700 tấn lên 61.272 tấn, tương đương 34,1%; kim ngạch tăng từ 184,2 triệu USD lên 379,5 triệu USD, tương đương 106,0%. Giá xuất khẩu bình quân tăng từ 4.030 USD/tấn lên 6.194 USD/tấn, tức tăng 53,7%. Điều này cho thấy quy mô và giá trị xuất khẩu hồ tiêu Brazil hiện cao hơn đáng kể so với hai năm trước.
Việt Nam tiếp tục là thị trường lớn nhất của hồ tiêu Brazil trong 8 tháng đầu năm với 15.519 tấn, trị giá 94,3 triệu USD, chiếm 25,3% tổng lượng xuất khẩu. Tuy nhiên, lượng xuất khẩu sang Việt Nam giảm 18,2% và kim ngạch giảm 12,8% so với cùng kỳ. Điều này đáng chú ý bởi Việt Nam vừa là nước sản xuất, xuất khẩu hồ tiêu lớn, vừa nhập khẩu hồ tiêu Brazil làm nguyên liệu phục vụ chế biến và tái xuất.
Trong khi xuất khẩu sang Việt Nam giảm, Brazil ghi nhận mức tăng rất mạnh tại nhiều thị trường khác. Senegal đạt 6.629 tấn, tăng 55,4%; Pakistan đạt 6.041 tấn, tăng 125,7%; Ai Cập đạt 5.290 tấn, tăng 125,9%. Ba thị trường này đã chiếm 29,3% tổng lượng xuất khẩu hồ tiêu của Brazil, cho thấy vai trò ngày càng lớn của khu vực Nam Á, Trung Đông và châu Phi.
Một diễn biến đáng chú ý khác là xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 2.407 tấn, tăng tới 104,2% so với cùng kỳ; Hà Lan đạt 1.940 tấn, tăng 87,6%; Thổ Nhĩ Kỳ đạt 1.888 tấn, tăng 69,6%; Mexico đạt 2.493 tấn, tăng 56,8%.
Trong khi đó, một số thị trường giảm khá mạnh như Ấn Độ còn 3.465 tấn, giảm 34,8%; UAE còn 2.835 tấn, giảm 47,3%; Đức giảm 37,1% xuống 2.132 tấn; Morocco giảm 3,1%.
Có thể thấy cơ cấu thị trường xuất khẩu hồ tiêu Brazil trong năm 2026 đang có sự dịch chuyển khá rõ. Sự suy giảm tại Việt Nam, UAE, Ấn Độ và Đức được bù đắp bởi tăng trưởng mạnh tại Senegal, Pakistan, Ai Cập, Hoa Kỳ, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Mexico. Điều này giúp tổng lượng xuất khẩu 8 tháng của Brazil vẫn tăng 5,7% bất chấp thị trường lớn nhất là Việt Nam giảm hơn 18%.
Giá cà phê thế giới giảm khá mạnh vào tuần trước, vụ thu hoạch cà phê arabica niên vụ 2026-2027 tại hầu hết các vùng sản xuất của Brazil đã gần hoàn tất vào cuối tháng 8, với tiến độ thu hoạch được đẩy nhanh trong những tuần trước đó nhờ thời tiết khô ráo.
Giá dầu thô tăng trong phiên giao dịch sáng ngày thứ Hai (7/9) sau khi OPEC+ quyết định giữ nguyên chính sách sản lượng dầu trong tháng 10 tại cuộc họp diễn ra ngày Chủ nhật.
Kể từ tháng 6 tới nay, thị trường cao su thiên nhiên không ngừng duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ, đẩy giá mặt hàng này lên mức cao nhất trong vòng gần hai năm qua. Sự cộng hưởng từ thời tiết khắc nghiệt, dịch bệnh tại các quốc gia sản xuất và căng thẳng địa chính trị đã tạo ra một thị trường đầy biến động, đồng thời dội áp lực chi phí khổng lồ lên chuỗi cung ứng lốp xe hạ nguồn.
Giá thép bán thành phẩm hạ nhiệt trên diện rộng trong tháng 8, khi giá chào phôi tấm FOB Biển Đen mất 19 USD/tấn còn giá tham chiếu xuất khẩu của Brazil giảm 10 USD/tấn, giữa lúc cước vận tải biển tăng và nhu cầu nhập khẩu tại EU, Thổ Nhĩ Kỳ còn yếu.